Thứ bảy, ngày 07 tháng năm năm 2011

CNXH mang màu sắc Trung Quốc

Mời mọi người hãy xem qua mấy bức ảnh và đừng vội kết tội chủ blog tôi vi phạm "tuyên truyền văn hóa đồi trụy"; đây hoàn toàn là môt chủ đề nghiêm túc:"CNXH mang màu sắc Trung Quốc"!





Do tính chất nghiêm túc của chủ đề, chủ blog tôi cần "nói có sách mách có chứng" bằng cách  post lại  vài hình ảnh trong số muôn vàn hình ảnh đang lưu truyền trên internet được chụp tại  một hội chợ đang diễn ra ở trung tâm Thủ đô Bắc Kinh. 

Nếu tôi không nhầm, đây là một hình thức trình diễn khỏa thân "danh chính ngôn thuận" lớn nhất Trung Quốc cho đến nay. Nó nhằm phát ra  tín hiệu rằng Lãnh đạo TQ  đã từ bỏ đạo đức cộng sản . Sự kiện này cùng với những diễn biến liên quan đến đợt chuẩn bị đại hội đảng sắp tới không biết chừng họ sẽ công khai tuyên bố một thứ CN XH không màu sắc! Tiếp đến sẽ là đa đảng chưa biết chừng (?) Lúc đó liệu Việt Nam ta vốn hay học tập và làm theo "đảng anh em" sẽ ngỡ ngày biết chừng nào ?    

Thứ sáu, ngày 06 tháng năm năm 2011

Một tài liệu tham khảo rất đáng đọc

Vài nét về Giáo sư Kenichi Ohno:  là người đã gắn bó với các vấn đề phát triển của VN suốt 16 năm qua. Trong những ngày này, ông liên tục di chuyển giữa Nhật Bản – nơi ông đang giảng dạy tại Viện quốc gia sau đại học về nghiên cứu chính sách (GRIPS), Ethiopia – nơi ông đang tư vấn cho chính phủ ở đây xây dựng phong trào nâng cao năng suất và Việt Nam – nơi ông làm giám đốc dự án hợp tác nghiên cứu giữa GRIPS và ĐH Kinh tế quốc dân.
Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn do H. Giang & V.V. Thành thực hiện

Giáo sư Kenichi Ohno:
“Ở VN, vấn đề là có quá nhiều hội thảo, hội nghị, báo cáo… và quá ít hành động” – ông  Kenichi Ohno trả lời phỏng vấn Tuổi Trẻ chiều 4-5.
* Giáo sư nhiều lần nhắc đến nguy cơ VN rơi vào bẫy thu nhập trung bình (TNTB). Vì sao?
- Bẫy TNTB không phải là khái niệm mới. Tôi muốn dùng khái niệm này ở VN vì tôi cho rằng VN cần khẩn trương có các chính sách tiến về phía trước. VN chưa bị những cú sốc mạnh như Thái Lan, Hàn Quốc từng gặp phải và theo tôi thấy, VN dường như chưa tiến đủ nhanh. Một số người cho rằng bây giờ nói đến bẫy TNTB là quá sớm. Đúng là VN mới gia nhập nhóm nước có TNTB vài năm nay, nhưng tôi vẫn dùng điều này để khuyến cáo Chính phủ cần phải nghĩ về tương lai. Hiện nay thu nhập bình quân đầu người của Malaysia là 8.000 USD và họ đang đối mặt với cái bẫy này. Với VN, cái bẫy này là rủi ro của tương lai nhưng VN cần hành động bây giờ để không phải đối mặt với nó.
Tôi không nói về sự phát triển vội vã, mà là những biện pháp dứt khoát. VN có thể phản ứng tốt trước các cuộc khủng hoảng sâu sắc, ví dụ đổi mới bắt đầu khi VN rơi vào khủng hoảng, nhưng bẫy TNTB là điều ở tương lai chứ không phải là một cuộc khủng hoảng trầm trọng hiện thời. Nhưng cần phải nhìn nhận vấn đề rộng hơn là tạo tăng trưởng mới. Đó còn là vấn đề lạm phát, đầu cơ bất động sản, bảo vệ môi trường…
Đây là điều tôi muốn thấy: nếu các bạn muốn làm điều gì đó, bạn xây dựng thành phong trào để nó trở thành câu chuyện chung của mọi người, từ tài xế taxi và nông dân tới quan chức Chính phủ. Đây là quá trình thay đổi tư duy: thay đổi sự trì trệ của khu vực tư nhân, khiến họ trở nên khát khao cạnh tranh hơn; thay đổi từ việc kiếm thu nhập chính từ bất động sản thành sự thành đạt nhờ kiến thức, công nghệ, nhờ biết sản xuất ra sản phẩm của riêng mình, có thể tiếp thị sản phẩm, quản lý nhà máy mà không cần sự hỗ trợ của người nước ngoài…
* Giáo sư có thể gợi ý phong trào nào cho VN?
- Nó sẽ phải liên quan tới năng suất. Ở Singapore dù thu nhập của họ rất cao, họ vẫn nói về năng suất. Ý tưởng ở đây không phải là làm thế nào để thu hút ODA hay FDI, mà là tìm cách để có thiết kế, tiếp thị… của riêng mình để nếu thế giới có thay đổi, các bạn vẫn còn “vốn” của mình.
* Ông từng cho rằng có quá nhiều ưu tiên phát triển nghĩa là không có ưu tiên?
- Khi xem chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm của VN, tôi thấy có quá nhiều ưu tiên. Tôi không thể nói tên những ưu tiên mà các bạn cần có, nhưng các bạn cần chỉ ra dưới 10 ưu tiên. Có thể thành lập hội đồng cạnh tranh quốc gia và giao cho họ nhiệm vụ xác định 7-10 ưu tiên. Chẳng hạn: thu hút các nhà máy lắp ráp điện tử, sản xuất và chế biến thực phẩm sạch có chất lượng cao…
Một khi đã có ưu tiên thì phải lập ra các nhóm làm việc đặc biệt thuộc các bộ chủ quản để xây dựng về mặt tổ chức, nhân sự, ngân sách cho ưu tiên đó. Điều quan trọng nữa là giám sát và chế tài thực hiện. Ở VN, nếu có chỉ tiêu nào đó không đạt được, không ai làm sao cả. Hơn nữa, VN có quá nhiều hội thảo, kiến nghị không có trọng lượng mấy tới hành động. Các bạn nên giảm họp hành và tạo ra các ủy ban hoạch định chính sách, đảm bảo các chính sách, gợi ý được thực hiện.
* Làm thế nào để tránh rơi vào bẫy TNTB?
- Cần có hai điều: thứ nhất là chất lượng ra chính sách của Chính phủ và thứ hai là thúc đẩy sự năng động của khu vực tư nhân. Đây là các chính sách khó nên phải học từ nước khác. Các bạn đã vào WTO, có thị trường chứng khoán, cổ phần hóa một số doanh nghiệp nhà nước… nhưng tất cả những điều đó chỉ giúp các bạn đạt tới mức có TNTB; còn từ đó trở đi sẽ phải tập trung vào hai điều trên.
* Theo giáo sư, rủi ro lớn nhất khiến VN rơi vào bẫy TNTB là gì? Và đâu là cơ hội để VN tránh bẫy đó?
- Cơ hội của VN là các bạn có một vị trí tốt, xung quanh toàn những nước đang cạnh tranh khốc liệt với bạn, đồng thời sẵn sàng hợp tác với bạn, nên VN khó có thể yên lòng ngủ kỹ được. Thứ hai, nhìn chung người VN làm việc chăm chỉ. Đợt nghỉ lễ vừa rồi, máy điều hòa ở nhà tôi bị hỏng. Dù là ngày lễ nhưng thợ vẫn tới sửa cẩn thận. Tất nhiên đây mới là ở mức độ công nghệ thấp. Nếu ở tầm công nghệ cao mà có những người kỹ sư như vậy thì họ sẽ biết cách giảm sự lãng phí và tăng năng suất. Cộng với chính sách tốt, các bạn có thể vượt qua bẫy TNTB. Còn rủi ro lớn nhất là sự tự hài lòng về chính sách.
Tôi không nghĩ người Malaysia chăm chỉ hơn người VN, nhưng họ lại có các chính sách tốt hơn.

Thứ ba, ngày 03 tháng năm năm 2011

Triệu Đà là vua của Việt Nam

            Lịch sử Việt Nam, nhất là phần cổ sử, không những rất sơ sài mà còn quá nhiều "góc khuất". Vì thế tranh cãi là lẽ đương nhiên; không tranh cãi mới là lạ. Với tinh thần đó, tôi xin trích ra đây nguyên văn một đoạn chính sử trên Wikipedia để làm ví dụ. 

Trích dẫn: 
Nhà Triệu trong lịch sử Trung Hoa là một vua chư hầu trong đế quốc Trung Hoa, nhưng là một giai đoạn lịch sử gây tranh cãi. Người Trung Hoa không công nhận nhà Triệu và Triệu Đà thuộc nước họ vì ông là Nam Việt hiệu úy còn theo quan điểm chính thống ở Việt Nam ngày nay thì Triệu Đà bị coi là giặc xâm lược.[2]
  • Quan điểm chính thống thời phong kiến, nhà Triệu là một triều đại chính thống của Việt Nam được thể hiện qua các sử gia từ Lê Văn Hưu (thế kỷ 13) đến Trần Trọng Kim (thế kỷ 20), coi đó là thời kỳ độc lập của Việt Nam, bởi vì họ Triệu cai trị Nam Việt độc lập với nhà Hán cho tới tận năm 111 TCN, khi các đội quân nhà Hán xâm lược đất nước này và sáp nhập nó vào đế chế Hán thành bộ Giao Chỉ. Lê Văn Hưu đã ghi trong bộ Đại Việt sử ký:
Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được.
Có một số tác giả phương Tây cũng công nhận điều này và cho rằng chỉ tới khi quân Hán sang tấn công Nam Việt, thời Bắc thuộc của Việt Nam mới bắt đầu.Quan điểm phủ nhận nhà Triệu được xuất hiện từ thế kỷ 18 khi sử gia Ngô Thì Sĩ phủ nhận nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam, trong Việt sử tiêu án, ông khẳng định nước Nam Việt là ngoại bang, Triệu Đà là kẻ ngoại tộc:
An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép to 4 chữ: "Kỷ Triệu Vũ Đế". Người đời theo sau đó không biết là việc không phải. Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi phát ở Long Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta. Nếu coi là đã làm vua nước Việt, mà đến ở cai trị nước ta, thì sau đó có Lâm Sĩ Hoằng khởi ở đất Bàn Dương, Hưu Nghiễm khởi ở Quảng Châu, đều xưng là Nam Việt Vương, cũng cho theo Quốc kỷ được ư? Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng như Ngụy kiêm tính nước Thục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp theo An Dương. Không thế, thì xin theo lệ ngoại thuộc để phân biệt với nội thuộc vậy.
Quan điểm này được tiếp nối bởi sử gia Đào Duy Anh trong thế kỷ 20, và hiện nay các sách lịch sử trong nền giáo dục tại Việt Nam đều theo quan điểm này. Theo quan điểm thứ hai này thì thời Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ năm 208 TCN khi nhà Triệu đánh chiếm nước nước Âu Lạc của An Dương Vương.
Hết trích dẫn

             Đọc đoạn chính sử trên đây ta không khỏi băn khoăn:  Tại sao ngay cả sử sách Trung Quốc không coi Tiệu Đà và Nam Việt là của họ và trong khi các thế hệ vua chúa Việt Nam trước TK 18 , kể cả Hưng Đạo Vương, đều đã coi Triệu Đà (Nam Việt) là Việt Nam, sử gia Trần trọng Kim (thế kỹ 20) vẫn thừa nhận Triệu Đà...  mà Việt Nam hiện nay lại chối bỏ? Có vô lý chăng, khi chối bỏ Triệu Đà nhưng lại chấp nhận các vua chúa Việt Nam như nhà Hồ, nhà Lý, nhà Trần...? Sự thật là, hầu hết các vua chúa Việt Nam dù đến từ phương Bắc nhưng đều có gốc gác Bách Việt nên đã chọn vùng "đất tổ" Văn Lang (dù dưới bất cứ tên gọi nào sau này như Nam Việt, Giao Chỉ, An Nam...) để lập nghiệp đế vương và chống lại sự bành trướng của các đế chế Hán tộc. Nói cách khác họ cũng là các bậc tiền bối của dân tộc VN ngày nay. Đó là sự thật không thể chối bỏ.  

Quan điểm của Ngô Thì Sĩ chỉ là một cá nhân không thể sánh với quan điểm của nhà sử học cùng thời Trần Trọng Kim đại diện cho quan điểm chính thống của tất cả các thời đại trước đó. Chỉ tiếc rằng quan điểm sai lầm đó lại được "tiếp thu" bởi các nhà sử học của Việt Nam từ sau CM tháng Tám..., có lẽ chủ yếu  xuất phát từ động cơ chính trị trước mắt nhằm thực hiện "dĩ hòa vi quý" với  "người anh em XHCN "? Nếu vậy,  đó là cách hành xử "lợi bất cập hại" khi tự mình xóa nhòa những dấu tích lãnh thổ tổ tiên đã bị phuơng Bắc xâm lấn, mà trong đó thời kỳ Triệu Đà là một mắc xích gần nhất trong nhiều mắc xích đã bị thất truyền trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc từ thời Kinh Dương Vương. Không có lý gì trong cả quá trình các Vua Hùng kéo dài hơn hai ngàn năm TCN mà chỉ còn là một tuyền thuyết mơ hồ?

Thiết nghĩ, với một số dân tộc khác, chỉ cần một vài trăm năm bị ngoại bang thống trị có thể trở thành vong quốc (như Chiêm Thành hay người Da đỏ ở châu Mỹ và thổ dân ở Úc v.v...) thì dân tộc Việt Nam  sau 1.000 năm Bắc thuộc khó có thể tránh khỏi những sự thất truyền về nguồn cội. Tuy nhiên điều quan trọng là quốc thể và bản sắc dân tộc Việt Nam vẫn còn đó, và truyền thuyết - phương tiện duy nhất thay cho sử sách vẫn còn đó để các thế hệ sau này dựa vào mà truy tìm lại  cội nguồn . Tuyệt đối không được  tự tiện "đơn giản hóa" phần cổ sử của dân tộc hoặc nghi ngờ, thậm chí chối bỏ cả truyền thuyết. Cũng không nên tự huyễn hoặc rằng "dân tộc ta  rất anh hùng nên chưa bao giờ để mất tấc đất nào cho giặc ngoại xâm" (!?). Nói như vậy là tự chối bỏ sự thật về một nước Văn Lang với cương vực từ Hồ Động Đình (nay thuộc tỉnh Hồ Nam-bên Trung Quốc).    

Bài ngẫu nhiên

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...