Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài học phát triển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài học phát triển. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, ngày 18 tháng 12 năm 2014

Tôi đi tập kết

Nhân dịp "Kỷ niệm 60 năm ngày Học Sinh miền Nam trên đất Bắc vừa được tổ chức tại Hà Nội", chủ blog tôi mạn phép đăng lại một ký ức của bản thân trong thời kỳ đáng ghi nhớ đó (trích từ "Tản mạn cuộc đời tôi")   

Vào một ngày se lạnh cuối năm 1954 cha tôi đi họp về thông báo vắn tắt với cả nhà rằng ông sẽ phải "đi tập kết" ra miền Bắc ngay trong vài ngày tới. Ông cũng bảo chị Hai hoặc tôi cũng có thể đi sau nếu muốn. Riêng ông cần phải đi trước khi  "đối phương” tiếp quản chính quyền ở địa phương. 

Lúc đó là đứa trẻ 9 tuổi tôi chỉ hiểu láng máng có một hiệp định đình chiến  vừa được ký kết, theo đó sẽ tạm thời chia cắt đất nước làm hai miền Bắc và Nam, quê tôi thuộc miền Nam nên những người thuộc  “phe ta” sẽ phải tập kết ra miền Bắc trong khi “phe địch” tập kết vào miền Nam, đợi 2 năm nữa sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Nhưng sự thật sau này đã diễn ra hoàn toàn không đơn giản như vậy. 

Mẹ chỉ kịp chuẩn bị vài thứ để Cha lên đường. Trong khi cả nhà tôi không ai thích thú gì chuyện đi tập kết thì tôi không hiểu vì sao đã "tự quyết" sẽ ra đi. Có lẽ vì tôi đã tin rằng được đi xa là điều rất thú vị, hơn nữa chỉ 2 năm sau quay về thì có gì phải lo!  Riêng mẹ tôi dĩ nhiên  không bao giờ chịu đi đâu cả dù bất cứ điều gì xảy ra; đối với bà đó là một nguyên tắc bất di bất dịch. Sau này tôi càng hiểu rõ hơn tại sao bà không đi tập kết; đó là ruộng vườn, mồ mã tổ tiên ông bà, là nơi chôn rau cắt rốn đúng theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng của từ này. Hơn nữa , đối với sự nghiệp chung, Mẹ ở lại thuận lợi hơn nhiều người khác. Thực tế đấu tranh trong 20 năm chia chia cắt đất nước cho thấy lựa chọn của Mẹ là đúng.  Mặc dù chính quyền  biết Mẹ là đảng viên có chồng con  tập kết ra Bắc nhưng không thể làm gì hơn ngoài việc bắt giam bà một thời gian rồi thả ra. Trong bất cứ hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn bà vẫn luôn  là chỗ dựa tin cậy của cơ sở cách mạng ở địa phương. Căn nhà của gia đình tôi vốn đã nhiều lần bị bom đạn thiêu cháy cũng từng là nơi che chở nhiều cán bộ, chiến sĩ, trong đó có nữ Bác sĩ  Đặng Thùy Trâm ngay từ những ngày đầu mới đặt chân vào chiến trường Đức Phổ. (Bà chính là người mà chị Trâm gọi là  "Mẹ"  trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm).          

Vậy là tôi đã rất lấy làm phấn chấn khi được Mẹ và chị Hai đồng ý cho đi theo đoàn người tập kết ra Bắc. Có lẽ một phần vì Mẹ biết sẽ có chị Hương con Bác Bốn đi cùng và khi ra miền Bắc sẽ có Cha ngoài đó rồi. Thế là cả nhà sắp xếp quần áo và vài thứ đồ dùng đơn giản trong một chiếc ba lô nhỏ để tôi mang theo. Mẹ gọi thợ  ảnh ngoài phố huyện đến nhà chụp một tấm ảnh mà sau này trở thành vật kỷ niệm vô giá đối với gia đình tôi trong những năm đất nước chia cắt. Đó là tấm ảnh chụp cả nhà dưới gốc cây dừa non phía trước nhà. Trong bức ảnh có một chi tiết tôi nhớ mãi, đó là đúng lúc  người thợ ảnh bấm máy thì chú Lai con út trong nhà lúc đó chưa đầy một tuổi bỗng dưng tè một phát,  may mà Mẹ tôi kịp lấy tay che lại. Trong bức ảnh đó tôi mặc bộ "quần sọt" và áo sơ mi mới được mẹ mua cho sau nhiều lần tôi khóc đòi bằng cách nói lái "quàng -sực- ý-sa-mao" (quần sọt áo sơ mi). Bức ảnh có chị Hương con bác Bốn nhưng không có mặt Cha tôi vì ông đã ra Bắc vài ngày trước. Tấm ảnh này là kỷ niệm duy nhất còn lại của sự đoàn tụ tương đối đầy đủ nhất của gia đình tôi trong thời kỳ chia cắt đất nước.   

Thoáng cái  đã đến lúc lên đường. Tôi hớn hở vô tư xách chiếc ba lô chạy theo đoàn người đi bộ ra thị trấn Đức Phổ. Số người đưa tiễn rất đông, tất nhiên có cả Mẹ và chị Hai trong đó. Tôi nhớ rõ lúc ấy không hề có cảm giác lo buồn hay do dự, chần chừ...  mà chỉ thấy háo hức ra đi với một niềm tin tất nhiên sẽ có ngày trở lại, đâu có biết rằng chuyến đi ấy là một bước ngoặc quan trọng như thế nào đối với cuộc đời tôi với một thời gian ly biệt gia đình kéo dài hơn 20 năm liền sau đó. Đó cũng là tình trạng biệt lý chia cắt của hàng vạn gia đình miền Nam tập kết ra miền Bắc thường được mô tả trong rất nhiều tác phẩm văn thơ, âm nhạc một thời.

Tháng 12/1954 tại Phổ Cường, Đức Phổ, Quảng Ngãi 
Cuối năm 1955 tại Hà Nội 


















Đoàn người tập kết đợt ấy gồm chủ yếu trẻ em trên  dưới 10 tuổi được biên chế thành nhiều nhóm nhỏ có người lớn kèm cặp. Biết cùng đi có chị Hương, nhưng tôi đã dường như không hề có ý thức sẽ dựa dẫm vào chị ấy, và có lẽ đó  là dấu hiệu đầu tiên của tính tự lập mà sau này tôi thấy ngày càng rõ như một bản năng trong tôi vậy. 

Vào quảng 1 giờ chiều cả đoàn lên xe cam-nhông-ray (một loại xe bánh sắt chạy trên trên đường sắt thời đó) và đến Quy Nhơn  quảng 7-8 giờ tối . Chúng tôi được đưa đến một khu nhà rất rộng như giống như nhà kho ở cảng. Nhà không chia thành phòng nhỏ mà chỉ có một phòng to bên trong kê toàn kê dát gường hoặc phản gỗ san sát với nhau;  mỗi người được phân  cho một lô có  chiếu và một tấm mền mỏng. Buổi tối đèn điện sáng choang khiến không khí rất vui vẻ. Sau khi ổn định chỗ ở thì  có những tiếng khóc đây đó của những người nhớ nhà. Sau bữa cơm tối tập thể, mọi người được yêu cầu đi ngủ sớm nhưng ít ai ngủ được ngay, có người còn tranh thủ ra phố dạo chơi, trong đó cũng có tôi. Đó là lần đầu tiên tôi được đi dạo phố cảng Quy Nhơn nên tôi rất thích. Điều thích nhất là chỗ nào cũng có ánh sáng điện không tối như ở quê.

Sau 3 ngày thì có một chiếc tàu thủy đến đón. Các anh chị phụ trách nói đó là “tàu há mồm”  của nước bạn Ba Lan. Đúng là chiếc tàu chỉ có một cánh cửa rộng mở về phía bờ giống như miệng cá vậy. Chúng tôi xếp hàng kéo nhau chui vào cái mồm đang mở hết cỡ của nó và cứ thế đi vào bụng nó. Hai bên cửa và dọc sườn tàu có những người chú lính thủy lớn, da trắng tóc vàng mắt xanh mũi lõ trông lạ lẫm và oai phong. Mỗi khi có ai trượt ngã hay mang vác cái gì nặng thì lập tức họ đến giúp. Bên trong tàu khá rộng nhưng không có giường nằm, chỉ có ít ghế gỗ gắn xung quanh. Mọi người có thể ngồi hoặc nằm ngay trên sàn tàu. Tôi thấy như vậy cũng là tốt lắm rồi, nhưng còn phải đợi xem mình sẽ có bị say sóng không đã. Trước khi đi mọi người nói nhiều về say sóng làm  tôi cũng thấy lo lo.

Không đầy 1 giờ sau, mọi thủ tục đã xong, mồm chiếc tàu từ từ khép lại và bên trong nó giống như một cái hầm khổng lồ. Con tàu nhổ neo ra khơi chòng chành lắc lư… Tôi thấy một số người lớn đứng bên trên cùng với các chú thủy thủ; họ nhìn ra ngoài chỉ trỏ, vẫy tay. Con tàu  nhanh chóng ra khơi và  không khí trong tàu trở nên trầm lắng buồn hẳn đi. Lúc đó tôi thấy tiếc là vừa rồi đã không lên đứng trên boong để nhìn xem con tàu đã rời bến như thế nào.

Tàu đi được quảng 40 phút thì tôi bắt đầu có cảm giác buồn nôn. Đúng là sự chòng chành  của nó khiến tôi thấy mình như bị nâng lên hạ xuống, chao đảo liên tục. Có lẽ gần nửa số người trên tàu đều bắt đầu bị say sóng. Người nôn ọe, kẻ cố kìm nén … Nôn mửa thì tôi đã biết, nhưng nôn mửa do say sóng thì đây là lần đầu. Nó thật khó chịu làm sao; đầu nặng như búa bổ, trong bụng dù không còn gì mà vẫn phải nôn ọe thật khó chịu, đúng như người ta nói  nôn cả mật xanh, miệng đắng ngắt. Cũng may mà sau đó tôi đã ngủ thiếp đi để không còn biết cảm giác trời đất gì nữa. Có lẽ mãi đến trưa ngày hôm sau tôi mới tỉnh dậy trong tiếng ồn ào của mọi người và luồng ánh sáng tràn vào từ trên boong tàu. Chỉ đến lúc này những người say sóng mới lấy lại được bình tĩnh và thấy đói bụng.  Cũng như họ, tôi  mở túi lấy một vài thứ để ăn cho đỡ đói và đỡ buồn. Không khí trong khoang tàu bắt đầu trở nên vui vẻ hơn và mấy chú lính Ba Lan cũng bắt đầu nháy mắt thân thiện với mọi người. Hồi đó tôi chưa biết thế nào là đi du lịch nhưng bây giờ nhớ lại thấy đó cũng giống như một cuộc đi du lịch đường biển vậy thôi, chỉ khác chăng là không mất tiền mua vé nên không được ngồi hoặc nằm trong các cabin tiện nghi như bây giờ!

Hôm đó, dù vẫn còn sợ say sóng, tôi đã cố leo lên boong tàu để ngắm biển. Biển xanh mênh mông không thấy bến bờ thật đẹp làm sao! Trước mắt tôi hoàn toàn một cảnh tượng khác hẳn với những gì tôi đã thường thấy quanh nhà mình; không đồng ruộng, không cây cối và không bị che khuất bởi các dãy núi, tất cả chỉ là một màu xanh biếc dính liền với màu xanh nhạt hơn ở tận cùng của nó. Tôi tự hỏi không biết cái gì ở tận cuối cùng kia, sao đi mãi vẫn không tới ? Đẹp lạ lùng nhất là khi mặt trời lặn; một quần lửa đỏ rực từ từ chui xuống mặt biển nước xanh đen thật kỳ diệu! Tôi định bụng sáng mai nhất định phải lên xem mặt trời mọc thế nào.  Thế nhưng đêm đó tôi lại đã ngủ quá say, khi tỉnh dậy mặt trời đã lên cao nên không thể so sánh với lúc nó lặng hôm qua. Tiếc thật! Thời gian còn lại của chuyến đi tàu ấy thật là thú vị. Sau lần say sóng ngày đầu tiên, tôi đã không say nữa,  nhờ thế mà cảm nhận được sự thú vị của chuyến đi. Cho đến nay mà nói, đó vẫn là chuyến đi biển dài ngày nhất của tôi.

Có lẽ sau gần đúng 3 ngày 2 đêm thì tàu chúng tôi đến một nơi mà sau này tôi mới biết là cảng Cửa Lò thuộc tỉnh Thanh Hóa. Tàu to quá không vào sát bờ được nên phải đậu lại cách bờ khá xa. Ngay lúc đó tôi thấy có hàng chục chiếc thuyền buồm cập sát hai bên sườn tàu. Họ đến để “trung chuyển”  chúng tôi lên bờ. Những người thủy thủ Ba Lan ra hiệu cho chúng tôi nhanh chóng thu gom hành lý và xuống tàu. Lúc này tàu không mở cửa  theo kiểu  há mồm như  khi đậu ở cảng Quy Nhơn nên chúng tôi phải trèo lên boong  sau đó phải đi thang dây để xuống các thuyền nhỏ đang cặp sát bên dưới. Lúc đầu mọi người thoáng thấy lo ngại: đi được lên boong tàu đã khó, đi xuống còn bằng thang dây du đưa lại còn khó hơn. Ngay lúc đó những người lính Ba Lan đã nhanh chóng dẫn dắt từng người một để thực hiện được từ đầu đến cuối quá trình  trung chuyển ngoạn mục đó. Ai khỏe và nhanh nhẹn thì họ chỉ dìu dắt là đi được, ai yếu hoặc dút dát thì họ bế thốc lên và chuyền tay nhau đưa đi như một đồ vật một cách êm nhẹ và an toàn tuyệt đối. Bọn trẻ chúng tôi đa số thuộc loại “đồ vật” như thế! Một lúc sau tôi đã thấy mình ngồi trên một chiếc thuyền buồm với vài chục người khác. Mọi việc nhanh đến mức không còn thời gian để mà sợ.

Điều khiển con thuyền là 3-4 người dân chài địa phương. Họ mặc quần áo nâu, chân đất, đầu không đội mũ nón gì. Điều lạ lẫm đầu tiên với tôi là giọng nói của họ: tuy biết họ là "người ta" nói "tiếng ta" nhưng không thể nào hiểu đích xác họ nói gì trong suốt cả chuyến đi vào bờ kéo dài độ 40 phút. Tôi bất giác có cảm nhận khá rõ ràng là, từ nay mình đã ra khỏi lũy tre làng, rời  khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, không còn được sống trong căn nhà cùng với cha mẹ anh chị em ...để bắt đầu một cuộc đời hoàn toàn mới lạ nơi đất khách quê người. Như một chú dế mèn, tôi cũng đang bước vào một cuộc phiêu lưu với những điều mới lạ ở phía trước.

Hà Nội, ngày 15/12/2014

Thứ Tư, ngày 17 tháng 12 năm 2014

Cuộc dịch chuyển lịch sử của hơn 32.000 học sinh miền nam



VN net, 14/12/2014: Năm 1954, hiệp định Giơnevơ được ký kết. Cùng với việc tập kết bộ đội và cán bộ miền Nam ra Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ chủ trương đưa học sinh từ 6 -7 tuổi cho đến 19-20 tuổi là con em cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền Nam từ các địa phương ra miền Bắc học tập. Nhiệm vụ là đào tạo thành đội ngũ kế cận cho cách mạng miền Nam cũng như cách mạng cả nước sau này.Từ năm 1954 đến 1975, hơn 32.000 học sinh miền Nam lần lượt theo xe bộ đội, đi tàu thủy, đi bộ vượt dãy Trường Sơn… ra miền Bắc học tập. Hàng chục nghìn người trưởng thành lại trở về xây dựng miền Nam.

Khi ông Hoàng Quốc Việt dẫn đầu đoàn đại biểu vào Nam nắm tình hình chuyển quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "…Nhắc nhở các cấp, các ngành quân, dân, chính ở miền Nam thực hiện nghiêm túc và chuẩn bị chu đáo việc đưa thiếu nhi, học sinh miền Nam tập kết theo đúng tiêu chuẩn, chính sách, khẩn trương và đảm bảo an toàn".
Học sinh trường số 18 Hải Phòng. Thời kỳ đó, Hải Phòng được gọi là thủ đô của học sinh miền Nam với tổng cộng 10 trường học sinh miền Nam trên đất Bắc. Ảnh:Tư liệu.

Từ năm 1954 đến 1975, hơn 32.000 học sinh miền Nam bằng nhiều con đường như theo bộ đội tập kết, đi tàu thủy ra Thanh Hóa, Hải Phòng, đi bộ vượt Trường Sơn... lần lượt ra vùng giải phóng. Những "hạt giống đỏ" năm xưa nằm trong diện tập kết do Bộ Giáo dục quản lý bao gồm: con em cán bộ miền Nam theo cha mẹ tập kết, học sinh có thành tích cao, con liệt sĩ. Ngoài ra, còn có học sinh vượt tuyến, học sinh miền Nam (Bình Trị Thiên, liên khu V) được ra Bắc học trong kháng chiến, nhưng không có cha mẹ ở miền Bắc và không liên lạc được với gia đình để có tiền tiếp tục ăn học. Một số cán bộ, bộ đội dưới 18 tuổi cũng được cho đi học văn hóa.

Thời gian đầu, học sinh được đón tiếp ở Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Hội (Nghệ An). Chỉ trong 2 tháng cuối năm 1954, hơn 5.000 học trò miền Nam đã ra Bắc học tập. Sau này học sinh đông, các địa phương trên không đáp ứng được nơi ăn ở, chăm sóc y tế, trường lớp. Bộ Giáo dục và các bộ ngành liên quan được giao nhiệm vụ xây dựng những trường nội trú "thuận tiện giao thông, gần Hà Nội, gần Hồ Chủ tịch, gần Chính phủ" dành riêng cho học sinh miền Nam ăn học.

28 trường học sinh miền Nam (tên trường được gọi theo số thứ tự từ 1 đến 28) được thành lập ở các địa phương xung quanh Hà Nội, như: Hà Tây (cũ), Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nam… Nơi có nhiều trường nhất gồm Hà Đông (12 trường), thành phố Hải Phòng (10 trường). Ngoài ra, còn có các trại nhi đồng miền Nam và khu học sinh ở Quế Lâm, Nam Ninh (Trung Quốc) và hàng nghìn học sinh được gửi đi đào tạo ở Liên Xô, Đức.

Quy trình đào tạo học sinh miền Nam từ cấp nhà trẻ mẫu giáo, liền mạch đến trung học chuyên nghiệp, đại học. Những người có năng lực thì được chọn đi học cao hơn để về phục vụ đất nước. Học sinh miền Nam được đào tạo đa dạng các ngành nghề khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học quân sự, từ công nhân kỹ thuật thực hành đến chuyên gia nghiên cứu. Phương pháp đào tạo là tổ chức các trường nội trú, cùng nuôi dưỡng và dạy học.
Hơn 600 thầy cô giáo hai miền Nam Bắc gặp mặt trong buổi tri ân các thầy cô từng dạy học trò miền Nam trên đất Bắc chiều 13/12 do Bộ GD&ĐT tổ chức. Ảnh: Hoàng Phương.

Thực hiện tinh thần "Tất cả vì học sinh miền Nam thân yêu", đội ngũ giáo viên giảng dạy được lựa chọn kỹ càng, đào tạo bài bản, có trình độ và khả năng sư phạm. Đội ngũ này xuất phát từ hai nguồn, hoặc là giáo viên tập kết, lão luyện tay nghề, hoặc thầy cô được đào tạo ở các trường sư phạm miền Bắc, hoặc ở Trung Quốc để dạy học sinh miền Nam. Thầy cô cũng phải tạm xa gia đình, cùng ăn cùng ở, vừa giảng dạy vừa thay người thân chăm lo cho học trò miền Nam.

Trong những ngày đầu tập kết, chưa xây dựng được trường lớp, người dân miền Bắc dù còn nhiều khốn khó đã nhường cơm, sẻ áo, đùm bọc, đón nhận những đứa con của đồng bào, đồng chí miền Nam. Ngược lại, học sinh miền Nam cùng nhân dân miền Bắc khắc phục khó khăn, tiếp sức cho miền Nam đánh giặc. Các lứa học sinh miền Nam đã góp sức lao động sản xuất, đắp đê Gia Lương (Hà Bắc) bị vỡ, nạo vét kênh dẫn nước chống hạn hán ở Chương Mỹ (Hà Nội),

Có mặt trong buổi Nhà báo Đức Lượng, nguyên Phó tổng biên tập báoNhân dân chia sẻ: "Ngày ấy, nhân dân miền Bắc mới được giải phóng, vừa cải cách ruộng đất, vừa khôi phục hòa bình, đời sống còn nhiều khó khăn. Nông dân huyện Quảng Xương (Thanh Hóa), nơi chúng tôi đặt chân đến còn đang đói. Khoai lang vừa bói củ bằng ngón tay đã phải dỡ lên ăn. Người già ốm đau, trẻ con được bát cháo hoa là điều hiếm lắm. Vậy mà chúng tôi có tất cả để ăn học nên người". Còn diễn viên điện ảnh, nghệ sĩ nhân dân Trà Giang (học sinh miền Nam tập kết ra Bắc năm 1955) gọi quãng thời gian học trường miền Nam ở Hải Phòng là những tháng năm tươi đẹp nhất đời.

Năm 1975, miền Nam được giải phóng, các học sinh được đưa trở lại quê hương tiếp tục học tập, công tác, một số ở lại miền Bắc làm việc và xây dựng gia đình. Các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc cũng dần đóng cửa. Cuộc dịch chuyển học sinh quy mô lớn nhất lịch sử được đánh giá thành công trên cả ba phương diện: đào tạo con người, mô hình giáo dục và chiến lược đào tạo lâu dài.

Phần lớn học sinh miền Nam sau tốt nghiệp phổ thông trung học được tuyển vào các trường đại học, cao đẳng trên cả nước và cử đi đào tạo ở nước ngoài. Đến năm 1975, hơn 15.000 học sinh miền Nam được đào tạo qua bậc đại học và sau đại học ở các trường đại học trong và ngoài nước.

Nhiều người trở thành cán bộ cao cấp trong chính quyền, như các ông Trương Quang Được, nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng; bà Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em; ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Thượng tướng công an Nguyễn Khánh Toàn; đại tá phi công Nguyễn Văn Nghĩa, nguyên Hiệu trưởng trường Hàng không Việt Nam. Nhiều học sinh miền Nam ra Bắc khi còn tuổi nhi đồng, sau này làm rạng danh học sinh miền Nam, như Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Kso Phước...
Thầy giáo và các học sinh trường Nguyễn Văn Bé đóng tại Quảng Tây (Trung Quốc) hội ngộ tại Hà Nội. Ảnh: Hoàng Phương.

Chia sẻ trong buổi tri ân thầy cô từng dạy học trò miền Nam trên đất Bắc chiều 13/12, GS.TS Lê Du Phong, nguyên Hiệu trưởng ĐH Kinh tế quốc dân, Trưởng ban liên lạc học sinh miền Nam trên đất Bắc khẳng định: "Các thế hệ học sinh miền Nam dù ở đâu, trên cương vị nào cũng không bao giờ quên công ơn của Đảng, Bác Hồ, các thầy, cô, chú đã nuôi dưỡng, tình cảm của đồng bào miền Bắc dành cho các thế hệ học trò miền Nam. Có học sinh trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã dặn dò anh em rằng 'Hãy ghi trên bia mộ tôi là học sinh miền Nam và nhớ khi gặp lại thầy cô, cho tôi gửi lời thăm hỏi và xin lỗi vì những điều đã làm các thầy cô phiền lòng".

Về mô hình giáo dục, dù chỉ tồn tại 21 năm (1954–1975), các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc được đánh giá là đã góp phần đào tạo hàng chục nghìn người con ưu tú đáp ứng yêu cầu cung cấp cán bộ, nhân tài cho các ban ngành, địa phương của miền Nam và trên cả nước. Trường học sinh miền Nam là mô hình, phương pháp tổ chức, đào tạo giáo dục của một loại hình giáo dục đặc biệt để lại nhiều bài học cho ngành trong chiến lược trồng người của đất nước.

Việc đưa học sinh miền Nam ra ngoài Bắc học tập được coi là quyết sách đúng đắn, kịp thời, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc chuẩn bị đội ngũ cán bộ phục vụ cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, đặc biệt là việc xây dựng lại miền Nam khi nước nhà thống nhất. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng đánh giá: "Đây là vườn ươm đặc biệt, ươm những hạt giống quý báu vào bậc nhất mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân miền Bắc đã dành cho miền Nam từ những ngày gian khó".

Hoàng Phương

Chủ Nhật, ngày 07 tháng 12 năm 2014

THẤY GÌ TỪ NHỮNG CON SỐ?

THEO CÁC NGUỒN THÔNG KÊ TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ VIỆT NAM CÓ NHỮNG TIỀM NĂNG RẤT CƠ BẢN, ĐÓ LÀ

Dân số
image
Việt Nam hiện nay có dân số ước tính khoảng hơn 93 triệu người, đứng hàng thứ 13/243 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Dân số là một trong những chỉ số chủ yếu được dùng để đánh giá độ lớn và nhỏ của một quốc gia, vậy xếp thứ 13 có nghĩa là VN thuộc loại "nước lớn" của thế giới.

Diện tích
image
Việt Nam có tổng diện tích đất liền khoảng 331,210 km2, đứng hàng thứ 61/189 quốc gia trên thế giới. Diện tích quốc gia cũng là một trong những chỉ số chính dùng để đánh giá độ lớn của quốc gia, do đó vị trí thứ 61, cho thấy Việt Nam thuộc nhóm 1/3 quốc gia lớn của thế giới. 

Biển và duyên hải
image
Việt Nam là một quốc gia có địa thế rất đặc biệt, toàn bộ mặt phía Đông giáp biển với vùng duyên hải dài  3,444 (thuộc loại dài nhất thế giới), phía Tây tựa lưng vào cao nguyên và dãy Trường Sơn hùng vĩ tạo nên thế phong thủy lý tưởng.  Như vậy Việt Nam thuộc loại có nhiều lợi nhất thế giới
trong khi 47 quốc gia khác không có biển và 35 quốc gia khac tuy có biển nhưng chiều dài duyên hải dưới 100 km. 

Rừng 
image
Việt Nam có tổng số diện tích rừng 123,000 cây số vuông đứng thứ 45/192 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới . Rừng Việt Nam được xếp loại rừng có hệ sinh thái đa dạng và đặc biệt và mặc dù đã bị khai thác một cách bừa bãi, nó vẫn nằm ở vị trí 1/3 các quốc gia đứng đầu về diện tích rừng. 

Đất canh tác:
image
Việt Nam có tổng số đất canh tác là 30,000 cây số vuông, đứng hàng 32/236 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Tổng số lượng lúa được Việt Nam canh tác đứng hàng thứ 5 trên thế giới trong số 20 quốc gia canh tác lúa gạo. Xét về mặt đất canh tác (và đặc biệt canh tác lúa gạo), Việt Nam không phải là kém.

Tóm lại, VN sở hữu "rừng vàng biển bạc" và có điều kiện nhân hòa địa lợi.

TUY NHIÊN VIỆT NAM LUÔN TRONG TÌNH TRẠNG YẾU KÉM TRONG CÁC LĨNH VỰC 

Giáo dục, đào tạo
image
Theo chỉ số Human Development, Việt Nam đứng hàng 121/187, có nghĩa là dưới trung bình. Không có một trường đại học nào của Việt Nam được lọt vào danh sách trường đại học có danh tiếng và có chất lượng.

Bằng sáng chế phát minh:
image
Theo International Property Rights Index [8], Việt Nam đứng hàng 108/130 tính theo giá trị trí tuệ, có nghĩa là gần đội sổ.

Ô nhiễm môi trường
image
Theo chỉ số ô nhiễm, Việt Nam đứng ở vị trí 102/124, gần đội sổ danh sách.

Thu nhập tính theo đầu người
image
Tuy thu nhập quốc gia của Việt Nam đứng hàng 57/193, nhưng đứng hàng 123/182 quốc gia tính theo thu nhập bình quân đầu người. Có nghĩa là về mặt quốc gia Việt Nam không nghèo lắm nhưng của cải chạy đâu hết không đến tay người dân.

Tham nhũng
image
Theo chỉ số tham nhũng mới nhất của tổ chức Transparency International, Việt Nam đứng hàng 116/177 có nghĩa là thuộc 1/4 quốc gia cuối bảng.

Tự do ngôn luận
image
Theo chỉ số tự do ngôn luận (freedom of press), Việt Nam đứng vị trí 174/180, chỉ hơn Trung Quốc, Bắc Hàn, Syria, Somalia, Turkmenistan và Eritrea, có nghĩa là nằm trong nhóm 1/20 thấp nhất thế giới.

Phúc lợi xã hội
image
Theo chỉ số phát triển xã hội, Việt Nam không có trong bảng vì không đủ số liệu để thống kê. Trong khi đó, theo chỉ số chất lưọng sống (Quality of Life) thì Việt Nam có điểm là 22.58, đứng hàng 72/76, có nghĩa là gần chót bảng.

Y tế
image
Theo chỉ số y tế, sức khoẻ, Việt Nam đứng hàng 160 trên 190 quốc gia, có nghĩa Việt Nam đứng trong nhóm quốc gia yếu kém nhất về y tế.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ, TẠI SAO MỘT QUỐC GIA CÓ KHÁ ĐẦY ĐỦ TIỀM NĂNG NHƯNG KÉM PHÁT TRIỂN VÀ PHÁT TRIỂN CHẬM,THẬM CHÍ NGÀY CÀNG TỤT HẬU SO VỚI PHẦN CÒN LẠI CỦA THẾ GIỚI, ĐẶC BIỆT SO VỚI CẢ CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC LÁNG GIỀNG ?

Thứ Ba, ngày 02 tháng 12 năm 2014

Dư luận phê phán ông Trần Văn Truyền “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn tham ô tài sản”

“Có được Bản kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thông báo về dấu hiệu vi phạm chính sách nhà, đất (thực chất là tham nhũng) của ông Trần Văn Truyền, chúng tôi mừng lắm, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân gắn bó với Đảng hơn. Cảm ơn nhóm phóng viên và Tổng Biên tập Báo Người cao tuổi đã vượt qua mọi sự nghiệt ngã, thể hiện bản lĩnh vững vàng, rất kiên cường, dám đấu tranh chống tham nhũng bằng nghĩa vụ và trách nhiệm công dân với Tổ quốc”. Nhiều cán bộ lão thành, cán bộ hưu trí, bạn đọc trên mọi miền nhắn tin, điện thoại tới Tòa soạn Báo Người cao tuổi khẳng định như vậy!…
Cổng chính đi vào dinh thự và “dự án gia đình” của ông Trần Văn Truyền đầu tư hơn nửa tỉ đồng.

Báo Trung Quốc tiết lộ thị trường mua quan bán chức

Theo Tin tức mới 24 giờ.net 02/12/2014-VN-Express 

Trong một bài báo với nội dung hiếm hoi được đăng lên rồi lại xóa đi, hãng thông tấn nhà nước Trung Quốc tiết lộ những cách mua quan bán chức ở nước này, và cho rằng nó không chỉ là việc của các cá nhân đơn lẻ.

Bài viết có tựa đề "Ai mua ai bán" gần đây trên Tân Hoa Xã , hãng thông tấn nhà nước Trung Quốc đã có lần tiết lộ hiếm hoi về cách thức và đối tượng mua bán quyền lực ở nước này, và gọi đó là thị trường hối lộ.
Theo bài báo được tờ SCMP thuật lại, người bán hàng chính là các cán bộ cao cấp, đặc biệt là các quan chức lãnh đạo tại một khu vực hoặc một đơn vị có quyền quyết định nhân sự. Vị này sẽ chỉ đạo người thứ hai, người thứ ba, hoặc thậm chí là người thứ tư nhận đút lót để giúp người kia thăng tiến.

Chủ Nhật, ngày 30 tháng 11 năm 2014

Tư liệu: Kinh tế Việt Nam xếp sau Lào và Campuchia về các chỉ số

 Nguyễn Thị Quỳnh Như tổng hợp-  

Toc do tang truong GDP cua nen kinh te Viet Nam cung khong duoc nhu ki vong ban dau.
Tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế Việt Nam cũng không được như kì vọng ban đầu.
Báo cáo từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cho thấy kinh tế Việt Nam kém tươi sáng. Việt Nam xếp ngưỡng trung bình trong xếp hạng về chỉ số năng suất sáng tạo  trong tổng số 22 quốc gia trong khu vực châu Á. Điều đáng chú ý là Việt Nam xếp sau cả Lào, Singapore, Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Mặt khác, tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế Việt Nam cũng không được như kì vọng ban đầu.

Thứ Bảy, ngày 29 tháng 11 năm 2014

Tư liệu: Tổng nợ tập đoàn, tổng công ty Nhà nước vượt 1,5 triệu tỷ đồng

Đó là thông tin có tính tổng kết mới nhất của VnEconomy.
Dẫn đầu về con số tuyệt đối nợ phải thu khó đòi là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, với 2.856 tỷ đồng...

Trụ sở Petro Vietnam tại Hà Nội.

Tổng nợ của tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đã vượt 1,5 triệu tỷ đồng, trong khi nợ phải thu khó đòi là 10.329 tỷ đồng.

Thứ Năm, ngày 27 tháng 11 năm 2014

Con gái Tướng Vĩnh nói thêm về cuộc gặp: Thành ủy Hà Nội "nắn gân" Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Nguyễn Nguyên Bình

H1
Bài ghi nhanh của Đại tá Nguyễn Đăng Quang mới đăng vừa qua đã phản ánh được khá đầy đủ ngắn gọn những nội dung chính của cuộc ‘trao đổi’ với đoàn khách do ông Trần Trọng Dực- Chủ nhiệm UB kiểm tra Thành ủy HN- dẫn đầu ở nhà cụ Nguyễn Trọng Vĩnh chiều 19- 11. Là người cũng được trực tiếp dự nghe, tôi xin viết thêm đôi điều cùng bạn đọc.

Thứ Tư, ngày 26 tháng 11 năm 2014

Người Việt ưa nịnh, thích 'dìm': Tác hại đến đâu?

"Với một truyền thống văn hóa "ưa được nịnh", "thích được khen", nhưng lại sợ phê bình và tự phê bình đến như thế, nếu không tự thay đổi từ gốc rễ mà cứ đòi hỏi tiến bộ, đòi hỏi "văn hóa từ chức"..., thì vẫn chỉ là mơ mộng mà thôi!" - GS-TSKH Trần Ngọc Thêm.

LTS: Vừa qua, "Đại tướng quân Hai lúa" trở thành đề tài được bàn luận sôi nổi. Mặc dù đây chỉ là một câu chuyện nhỏ, nhưng từ đó đã gợi ra rất nhiều điều khiến chúng ta suy ngẫm, liên quan đến việc vì sao những sáng tạo, thay đổi, cải cách của VN vẫn còn gặp nhiều rào cản và chậm bước so với đòi hỏi của thời đại.
Chẳng hạn, so với các quốc gia láng giềng trong khối ASEAN, như Myanmar, Campuchia, Lào, thì Việt Nam đổi mới sớm nhất. Nhưng sau cú đột phá ngoạn mục vào năm 1986, chúng ta lại rơi vào trì trệ, hiện nay nhiều người đã cảnh báo về nguy cơ tụt hậu...
Nguyên nhân văn hóa căn cốt ẩn sau những vấn đề ấy chính là chủ đề của cuộc trò chuyện của Tuần Việt Nam với GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, Viện sĩ Viện hàn lâm Khoa học tự nhiên Nga, Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương, Giám đốc Trung tâm Văn hóa học Lý luận và Ứng dụng Trường Đại học KHXH&NV thuộc ĐHQG-HCM. Những câu trả lời của ông xoay quanh một lý giải được ông khái niệm hóa là "Văn hóa âm tính".

Thứ Ba, ngày 25 tháng 11 năm 2014

Có một giới siêu giàu khác

Wealth - X và Ngân hàng Thụy Sĩ (UBS) vừa công bố báo cáo những người siêu giàu trên thế giới năm 2014. Trong đó Việt Nam có 210 đại diện với tổng tài sản trị giá 20 tỉ USD. Theo tiêu chí của Wealth - X và UBS, người siêu giàu là người có tài sản trên 30 triệu USD.

Thứ Sáu, ngày 21 tháng 11 năm 2014

Sự cố mất quyền điều hành bay là 'chưa từng có trên thế giới'


VN-Express 21/11/11/2014: Các chuyên gia trong ngành hàng không cho rằng sự cố mất điện tại Đài kiểm soát không lưu Tân Sơn Nhất là "quá sức nguy hiểm" và "thế giới không bao giờ có chuyện sân bay mất điện lâu thế".


Thứ Năm, ngày 20 tháng 11 năm 2014

Những vị "khách không mời" đến thăm nhà Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh

Ghi nhanh của Cựu Đại tá Nguyễn Đăng Quang người có mặt trong cuộc thăm
Chiều 19/11/2014 Hà Nội đã vào cuối thu, lạnh. Tôi tranh thủ đến thăm sức khỏe lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh. Tôi quen biết cụ đã gần 40 năm nay và rất kính trọng và khâm phục cụ về nhân cách, đạo đức cũng như tấm lòng của cụ đối với dân và đất nước. Dù năm nay đã 99 tuổi song cụ vẫn nhanh nhẹn, khỏe mạnh và minh mẫn! Mặc dù hơn tôi 26 tuổi song cụ vẫn coi tôi là một người bạn vong niên thân thiết. Tiếp tôi, ngoài cụ còn có con gái cụ là nhà văn Nguyên Bình và chồng chị là anh Trịnh Văn Trà, một đại tá quân đội đã nghỉ hưu.
Tôi đứng lên chào và xin phép cụ ra về vì đã tâm tình và trò chuyện với cụ hơn một tiếng đồng hồ thì cụ bảo tôi cố nán lại ít phút để dự buổi cụ tiếp đoàn khách của Thành ủy Hà Nội đến thăm cụ.

Thứ Tư, ngày 19 tháng 11 năm 2014

Báo SGGP thiếu khách quan

Ngày 4/11/2014 Báo SGGP đăng bài: Sự thật về lòng "trung thành" của của nhóm thư ngỏ 61. Xem tại đây: 
http://www.sggp.org.vn/xaydungdang/2014/11/366020/

Bài báo đã đưa ra những đánh giá chủ quan, phiến diện và áp đặt những "tội danh" không có thực đối với các đảng viên có tên trong "bức thư ngỏ 61" như "mượn danh đảng viên và yêu nước"..."tiếp tay cho Việt Tân và các tổ chức phản động", v.v... 

Thứ Bảy, ngày 15 tháng 11 năm 2014

Nghi án “hoa hồng” và Đại tướng quân xứ người

- 15/11/2014Cả hai vụ có “yếu tố nước ngoài”, dù xấu tốt, hay dở khác hẳn nhau, nhưng đều cho thấy tư duy quản lý, nền quản trị quốc gia từ vĩ mô tới vi mô của nước Việt đang phải “Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước/ Chọn một dòng hay để nước trôi?”

Chọn dòng tư duy văn minh, văn hóa mềm dẻo, thực tiễn của nhân loại hay… ngược lại.
I-Nổi bật trong tuần có hai vụ việc, một dở, một hay, đều liên quan đến “yếu tố nước ngoài”, đều gây sốc, nhưng dư âm của nó, như tên gọi một ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý xa xưa thuở nào, thì đều rất… đáng buồn
Xin nói về chuyện dở trước.

Thứ Tư, ngày 12 tháng 11 năm 2014

VN "lạm phát tướng"?

Gs Nguyễn văn TuấnTheo FB Nguyen Tuan
Nhiều năm trước, một anh bạn làm nghề báo chí nhưng không hẳn là kí giả, đưa ra một nhận xét làm tôi giật mình. Anh nói với tôi: "Ông nói nhiều về lạm phát con số giáo sư và tiến sĩ, nhưng ông không chú ý là VN còn lạm phát về tướng tá." 

Chủ Nhật, ngày 09 tháng 11 năm 2014

CẢNH GIÁC MADE IN CHINA



TRUNG CỘNG ĐẦU ĐỘC CẢ THẾ GIỚI VỚI NHỮNG SẢN PHẨM NGUY HIỂM


20140725-012308-4988429.jpgĐể trả lời câu hỏi: “Nhưng chết dưới tay Trung Cộng như thế nào?” Tiến sĩ Peter Navarro nói: “Nhiều cách lắm, bằng hàng hóa độc hại, bằng cạnh tranh bất chánh, bằng cách cướp công ăn việc làm của nhiều quốc gia, bằng các hoạt động gián điệp, chiếm tài nguyên thiên nhiên của các nước láng giềng, chiếm lãnh nhiều thuộc địa bằng mặt trận kinh tế, đánh cắp bí mật quốc phòng và tăng đầu tư vào quân đội toàn là những thủ đoạn hiểm độc.”

Thứ Hai, ngày 03 tháng 11 năm 2014

Mô hình phát triển nào cho Việt Nam

Tư Giang(TBKTSG) -1/11/2014


 Câu chuyện về cái đuôi định hướng

Một ngày cuối năm 2013, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên nhận được một câu hỏi của nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển: “Quy luật chính của kinh tế thị trường là gì?”. Ông Thiên, sau một hồi suy nghĩ, đáp ngắn gọn “cạnh tranh”.

Chủ Nhật, ngày 02 tháng 11 năm 2014

Tiền nhân đã dạy: "Khôn thì sống, mống thì chết"



Tác giả: Ngọc Quang Báo GDVN ngày 31/10/2014 - 

Nếu chúng ta giao quyền, giao tài sản cho những người kém cỏi về năng lực và đạo đức, lại tham lam... thì làm sao tránh khỏi lệ thuộc, thậm chí là mất nước

Sáng nay, Luật sư Trương Trọng Nghĩa - Đại biểu đoàn TP.HCM đã có một phát biểu làm nóng nghị trường khi đề cập thẳng tới quan hệ kinh tế với Trung Quốc và chuyện hàng nghìn lao động phổ thông Trung Quốc tràn vào Việt Nam.

Thứ Ba, ngày 21 tháng 10 năm 2014

TQ không phải "thế lực thù địch" thì là ai đây?

Như tin tức đã loan báo, từ ngày 16-18/10 Đại tướng Phùng Quang Thanh đã dẫn đầu đoàn quân sự cấp cao gồm 13 tướng lĩnh sang thăm chính thức TQ. Trả lời báo chí bên lề phiên khai mạc kỳ họp QH sáng nay Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cho biết mục đích chuyến đi là nhằm "tăng cường thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa quân đội của hai nước cũng như Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước". Giải đáp mối lo ngại của nhiều chuyên gia trước việc TQ xây dựng căn cứ quân sự và đe dọa an ninh hàng hải trong khu vực, Bộ trưởng cho rằng "đó là lo ngại của các nhà nghiên cứu", nhưng theo ông "điều quan trọng nhất là hai bên đã thỏa thuận phải hợp tác theo tinh thần hữu nghị của lãnh đạo 2 Đảng, Nhà nước, giữ gìn môi trường ổn định, hòa bình và kiểm soát hoạt động của lực lượng vũ trang của hai nước trên biển, không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và để xảy ra xung đột vũ trang ở trên biển". Khi có người hỏi phía họ có hứa gì không, ông Thanh nói "Hứa thì không hứa, nhưng nói chung là...". 

Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này