Hiển thị các bài đăng có nhãn Biển Đông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Biển Đông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, ngày 18 tháng 4 năm 2015

Các nước ĐNÁ, kể cả VN chưa có cách ứng phó hữu hiệu ở Biển Đông

Đó là nhận xét của Đô đốc Samuel Locklear - Chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ mới đây và được đài VOA ngày 16-04-2015 đưa tin.
Như một sự trùng hợp minh họa cho nhận xét trên, hôm qua 2 chiếc máy bay chiến đấu của Không quân VN đang diễn tập tại vùng biển đảo Phú Quý đã cùng lúc lao xuống biển trong một tai nạn. Nhiều năm nay tàu thuyền Trung Quốc xâm phạm trắng trợn và rất sâu trong hải phận của VN như vào chỗ không người, dân chài miền Trung liên tục là nạn nhân của tàu thuyền Trung Quốc. Qua cụ giàn khoan 981 cho thấy sự chênh lệch lực lượng hoàn toàn với đối phương. Người dân khó hiểu về tiềm lực quốc phòng thật sự của đất nước đến mức nào, và tại sao con số tướng lĩnh tăng cao nhất thế giới nhưng chất lượng binh lực lại dẫm chân tại chỗ, nếu không nói là tụt hậu, đặc biệt quá yếu kém so với đối phương? Liệu điều gì sẽ xảy ra nếu kẻ thù lại một lần nữa phát động chiến tranh xâm lược bành trướng?
Nhân đây cũng xin lưu ý về câu kết trong phát biểu của Đô đốc Samuel Locklear: "Trung Quốc đang theo đuổi tham vọng của mình với quyết tâm rất lớn và chính sách của Mỹ cần phải được điều chỉnh một cách thận trọng.". Sự "thận trọng" này của Mỹ là gì nếu không phải là "có giới hạn", và giới hạn đó là gì thì người VN có thể nhận biết qua quá trình người Mỹ đã dung túng TQ lấn chiếm Biển Đông như thế nào thời gian qua. Và nếu nói Việt Nam "dựa vào nội lực là chính", thì chắc là khó lắm khi mà "thế trận lòng dân" không còn nữa - Bách Việt. 


Chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ , Đô đốc Samuel Locklear nói rằng cho tới giờ các nước Đông Nam Á, kể cả Việt Nam và Philippines, có rất ít thành quả trong việc ứng phó hữu hiệu hành động của Trung Quốc.  

Viên chỉ huy của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ cho biết Trung Quốc đang tiến hành những hoạt động lấp biển lấy đất với qui mô lớn tại những bãi cạn đang có tranh chấp ở Biển Đông. Theo tường thuật của thông tín viên Victor Beattie của đài VOA, Đô đốc Samuel Locklear cho biết như thế hôm thứ tư trong một cuộc điều trần tại Hạ viện Mỹ.

Đô đốc Samuel Locklear nói với các thành viên của Uỷ ban Quân vụ Hạ viện rằng Trung Quốc “không cho thấy sự chậm lại trong tiến độ hiện đại hoá quân đội, nhất là hải quân.”

Ông cho biết chi tiêu quân sự gia tăng với tỉ lệ hai con số mỗi năm trong 5 năm liên tiếp đang giúp cho Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng ở Biển Đông Trung Hoa và Biển Nam Trung Hoa:

“Giờ đây, họ đang thực hiện việc này với những gì mà chúng tôi nhận thấy là những hoạt động lấp biển lấy đất với qui mô khá lớn ở quần đảo Trường Sa và nâng cấp các cơ sở ở quần đảo Hoàng Sa, là hai khu vực ở Biển Đông.”

Người đứng đầu Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương cho rằng những hoạt động đó giúp cho Trung Quốc có khả năng bố trí, dùng làm căn cứ và tiếp tế cho những tàu bè phi quân đội, như tàu hải giám, trong khu vực này. Ông nói tiếp:

“Trên cơ bản nó cho phép họ phát huy ảnh hưởng trong khu vực hiện giờ là khu vực có tranh chấp. Sự nới rộng diện tích đất đai ở đó rốt cuộc sẽ có thể dẫn tới chỗ bố trí những thứ, như ra đa quân sự tầm xa và những loại phi đạn tối tân, và nó có thể là cơ sở để chấp hành một vùng nhận dạng phòng không trong trường hợp họ muốn thiết lập một vùng như vậy.”

Đô đốc Locklear cũng nói rằng cho tới giờ này, các nước Đông Nam Á, kể cả Việt Nam và Philippines, có rất ít thành quả trong việc hình thành một sự ứng phó hữu hiệu đối với những hành động của Trung Quốc.

Những hình ảnh chụp từ vệ tinh do công ty DigitalGlobe công bố hôm Thứ ba cho thấy hai đảo Phú Lâm và Quang Hoà của quần đảo Hoàng Sa đã được nới rộng một cách đáng kể. Những hình ảnh khác cho thấy những hoạt động xây dựng ồ ạt của Trung Quốc tại ít nhất 7 bãi đá san hô ở Trường Sa mà Việt Nam và Philippines cũng có yêu sách chủ quyền. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh cho biết các đảo nhân tạo đó sẽ được dùng cho các mục tiêu dân sự và quân sự.

Cũng tại cuộc điều trần hôm thứ tư, Phó Bộ trưởng Quốc phòng Christine Wormuth cho biết những hoạt động trên biển của Trung Quốc đã tạo ra những sự xích mích đáng kể với các nước láng giềng:

“Chúng tôi đã thúc giục Trung Quốc chứng tỏ sự tự chế và tránh thực hiện thêm những hành động gây phương hại tới sự tin tưởng trong khu vực. Chúng tôi cũng đã tiếp tục hối thúc Trung Quốc làm rõ ý nghĩa của yêu sách mơ hồ của đường chín đoạn như một điểm khởi đầu nhằm giảm thiểu căng thẳng và mang lại một sự minh bạch nhiều hơn cho các quốc gia trong khu vực.”

Tuần trước, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama nói, “Chúng tôi quan tâm tới vấn đề Trung Quốc không hoàn toàn tuân thủ các chuẩn mực và luật lệ quốc tế và đang dùng kích cỡ và cơ bắp của mình để ép các nước khác vào những vị thế tuân phục.” Mặc dầu vậy, nhà lãnh đạo Mỹ cho biết ông nghĩ rằng sự hung hăng trên biển của Trung Quốc có thể được giải quyết thông qua các phương tiện ngoại giao.

Trung Quốc tố cáo Washington thiên vị trong cuộc tranh chấp và can thiệp vào công việc nội bộ của khu vực, kể cả vụ tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Nhật Bản đối với một nhóm đảo ở Biển Đông Trung Hoa, để “hòng cứu vãn ảnh hưởng đang tàn lụi ở Á châu Thái Bình Dương.”

Ông John Blaxand, một chuyên gia quốc phòng của Đại học Quốc gia Australia, cho biết Trung Quốc đang sử dụng những nguồn lực vô cùng to lớn để hỗ trợ cho những yêu sách chủ quyền và đang vẽ lại bản đồ ở Biển Đông:

“Họ đang làm ra những hòn đảo mới, những hòn đảo rất khó lòng trở lại như cũ. Đây là một việc chưa từng có. Khả năng xảy ra xung đột trong số những nước có yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa đang gia tăng, và rõ ràng là tính chất trọng yếu của việc này rất cao. Nhưng, theo cái nhìn của Trung Quốc, bảo vệ các tuyến giao thương và tài nguyên của mình là những quyền lợi quốc gia có tính chất sinh tử.”

Ông Blaxand cho biết Trung Quốc đang theo đuổi tham vọng của mình với quyết tâm rất lớn và chính sách của Mỹ cần phải được điều chỉnh một cách thận trọng.


Thứ Sáu, ngày 17 tháng 4 năm 2015

Một bước đột phá trong quan hệ Việt – Mỹ (*)

(*) Đây là tiêu đề  bài viết của tác giả  người Mỹ Alexander L. Vu Ving  trên tạp chí The Diplomat, số ra ngày 10/04/2015 được dịch ra tiếng Việt và đưa lại bởi RFI. Blog Bách Việt xin mạn phép đưa lại để  bạn đọc tham khảo không nhất thiết phản ảnh quan điểm của trang chủ.
   
Buổi làm việc giữa phái đoàn Việt Nam do Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang (thứ hai trái) dẫn đầu với Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ. Ảnh của Bộ An ninh Nội địa Mỹ, đưa lên mạng ngày 19/03/2015.Photo : Secretary of Homeland Security


Chuyến thăm gần đây biểu tượng cho sự thay đổi đáng ngạc nhiên trong quan hệ song phương.
Nổi bật lên như là một trong những quan hệ chủ chốt tại Châu Á - Thái Bình Dương, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã có bước đột phá đáng kể trong thời gian gần đây. Cho dù không được báo chí quốc tế theo dõi, bước đột phá này đã được thể hiện trong chuyến công du Washington từ ngày 15 đến 20/03/2015 của Bộ trưởng Công an Việt Nam Trần Đại Quang. Có thể truyền thông ít chú ý tới chuyến đi bởi vì sự kiện này được coi như là một sự trao đổi thường lệ ở cấp Bộ trưởng. Thế nhưng, chuyến viếng thăm của ông Quang lại không hề là một thông lệ và nội dung các cuộc trao đổi của ông cho thấy sự thay đổi về chất lượng trong mối quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam.
Là một trong hai Bộ trưởng có thế lực nhất trong chính phủ Việt Nam (người kia là Bộ trưởng Quốc phòng), ông Quang cũng là một thành viên chủ chốt trong ban lãnh đạo tập thể Việt Nam, tức Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam. Các nguồn tin Việt Nam cho biết là ông Quang công du Mỹ trước tiên là với tư cách là Ủy viên Bộ Chính trị và mục đích chính chuyến đi là chuẩn bị cho cuộc viếng thăm vào tháng Sáu của lãnh đạo tối cao Việt Nam, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng.
Điều không bình thường đối với một vị Bộ trưởng là ông Quang đã có những cuộc nói chuyện với các quan chức cao cấp của nhiều cơ quan trong chính phủ Mỹ, không chỉ với Bộ An ninh Quốc nội và Cục Điều tra Liên bang FBI, mà còn với Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Hội đồng An ninh Quốc gia, Bộ Tư pháp và Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA. Ông Quang cũng gặp gỡ các nhà lập pháp cấp cao tại Nghị viện. Chủ đề các cuộc nói chuyện của ông vượt ra khỏi thẩm quyền của Bộ Công an, từ quốc phòng và an ninh cho đến thương mại và đầu tư. Nhân quyền cũng là một chủ đề trong các cuộc trao đổi của ông với các đối tác Mỹ. Theo các nguồn tin Việt Nam, phần quan trọng trong chuyến đi của ông Quang là nhằm thúc đẩy sự ủng hộ của Mỹ đối với Việt Nam trong các tranh chấp ở Biển Đông và các vấn đề an ninh khu vực.
Khi phái ông Quang đi Mỹ, Bộ Chính trị tại Hà Nội đã đưa ra một thông điệp rõ ràng về thái độ của mình đối với cựu thù. Ông Quang được lựa chọn đi chuẩn bị cho chuyến viếng thăm của ông Trọng, bởi vì ông có được lòng tin của lãnh đạo đảng Cộng sản. Nhưng đồng thời, ông cũng là người chỉ huy lực lượng an ninh chịu trách nhiệm bảo vệ chế độ. Với danh nghĩa này, tại Mỹ, ông có thể là đối tượng hàng đầu của các chỉ trích về nhân quyền. Chuyến đi của ông Quang với tư cách là cuộc viếng thăm chính thức đầu tiên của một Bộ trưởng Công an Việt Nam tới Mỹ cho thấy giờ đây, Hà Nội cảm thấy thoải mái khi quan hệ với một đối thủ về tư tưởng. Về phần mình, việc Washington đối xử hữu nghị với ông Quang đã làm Hà Nội bớt nghi kỵ và coi Mỹ như thế lực thù địch.
Mối quan hệ đã thay đổi
Chuyến công du của ông Quang là sự kiện gần đây nhất trong khuôn khổ một loạt các cuộc gặp và đã làm thay đổi bản chất mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam trong những năm vừa qua. Chuyến thăm Hà Nội hồi tháng 07/2012 của cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã kích hoạt tiến trình biến đổi này. Trong chuyến thăm này, bà Clinton đã gặp lãnh đạo đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng và mời ông thăm Mỹ. Tính biểu tượng của các động thái này cho thấy Washington đã chấp nhận những khác biệt về ý thức hệ với chế độ Việt Nam và nhìn nhận đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam như một đối tác và những người cầm quyền ở Hà Nội đã chấp nhận mối quan hệ đối tác này. Ý nghĩa của việc bà Clinton mời ông Trọng có tầm quan trọng đối với Hà Nội. Điều này cho thấy là mặc dù đối lập về vấn đề ý thức hệ, Hoa Kỳ giờ đây muốn thúc đẩy quan hệ hữu nghị nghiêm túc với Việt Nam. Trên thực tế, cuộc gặp đã mở cửa cho việc phát triển quan hệ thực chất giữa chính phủ Mỹ và đảng Cộng sản Việt Nam.
Chuyến thăm của bà Clinton đặt nền tảng cho việc thiết lập Thỏa thuận Quan hệ Đối tác Toàn diện Mỹ-Việt, được chính thức ký kết một năm sau đó tại Washington nhân hội nghị Thượng đỉnh hồi tháng 07/2013, giữa Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang. Trong thỏa thuận khung quan hệ đối tác này, Washington và Hà Nội cam kết « các bên tôn trọng hệ thống chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ » của nhau. Trên cơ sở nguyên tắc này, thỏa thuận khung đề cập đến hợp tác trên mọi lĩnh vực, từ quan hệ chính trị và ngoại giao đến quan hệ thương mại và kinh tế, từ công nghệ và giáo dục đến quốc phòng và an ninh, từ văn hóa, thể thao và du lịch cho đến các vấn đề tồn tại sau chiến tranh, từ môi trường và y tế tới việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền.
Đầu tháng 10/2014, khi Ngoại trưởng Mỹ John Kerry gặp Ngoại trưởng Phạm Bình Minh, Hoa Kỳ thông báo quyết định bãi bỏ một phần lệnh cấm vận, vốn áp dụng từ nhiều thập niên qua, trong việc cung cấp vũ khí sát thương cho Việt Nam, nhằm hỗ trợ thúc đẩy an ninh hàng hải. Cấm vận vũ khí là một trở ngại lớn từ phía Hoa Kỳ trên con đường thắt chặt quan hệ Mỹ-Việt.
Một trở ngại khác từ phía Việt Nam đã được dỡ bỏ khi ông Trần Đại Quang thăm Mỹ trong năm nay. Khi nói chuyện với các đối tác Mỹ, ông Quang khẳng định rằng Hà Nội sẵn sàng cho phép tổ chức thiện nguyện Đội Hòa Bình (US Peace Corps) hoạt động tại Việt Nam. Điều này đánh dấu một sự thay đổi đáng kể trong thái độ của chế độ cộng sản đối với đối thủ về tư tưởng. Cách nay 5 năm, trong một bản đề cương chính sách quan trọng của Ban Tuyên huấn đảng trung ương Cộng sản Việt Nam, những người « canh gác » về tư tưởng Việt Nam đã tố cáo Đội Hòa Bình là một « thế lực thù địch » và là một tổ chức chuyên tiến hành các hoạt động tuyên truyền, lật đổ chống lại chế độ cộng sản.
Quan hệ giữa Hoa Kỳ và nước Việt Nam cộng sản được bình thường hóa khá chậm chạp. Phải mất hai thập niên sau khi kết thúc chiến tranh thì hai bên mới thiết lập quan hệ ngoại giao (1995). Và lại phải mất thêm hai thập niên nữa, sau khi lập quan hệ ngoại giao, thì bang giao song phương mới bình thường hóa hoàn toàn. Chuyến thăm Washington của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vào tháng Sáu sẽ là giao đoạn cuối cùng trong tiến trình bình thường hóa quan hệ này.
Những lợi ích tương đồng
Nếu như Trung Quốc là một yếu tố quan trọng vừa ngăn cản vừa thúc đẩy mối quan hệ Mỹ-Việt, thì các lực cản chính kìm hãm Hà Nội và Washington xích lại gần nhau lại là những vấn đề hệ tư tưởng và tâm lý hơn là vấn đề vật chất. Sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, các lợi ích chiến lược của Việt Nam và Hoa Kỳ tương đồng với mối ưu tiên cao nhất của cả hai nước ở trong khu vực, đó là có một môi trường hòa bình và ổn định thúc đẩy phát triển kinh tế. Từng là một thế lực chống đối, Việt Nam nay chuyển sang ủng hộ trật tự khu vực do Mỹ hỗ trợ. Về phần mình, Mỹ từ bỏ ý đồ làm suy yếu và cô lập Việt Nam. Thay vào đó, Mỹ mong muốn Việt Nam hùng mạnh, phồn thịnh. Tuy nhiên, cả Mỹ và Việt Nam đều cảm nhận bên kia như một mối đe dọa tới bản sắc của riêng mình. Tại Mỹ, ký ức về sự thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam và việc tự nhận thức mình như là một chiến sĩ bảo vệ quyền tự do đã tạo ra nhiều thế lực chống lại việc thắt chặt quan hệ với Hà Nội. Tại Việt Nam, mong muốn giữ gìn chế độ và sự thống trị của tư tưởng bài Tây phương đã ngăn chặn mọi bước tiến hướng tới quan hệ hữu nghị với Washington.
Các nỗ lực liên tục của cả Hà Nội và Washington đã đóng một vai trò quan trọng làm giảm thiểu các nhận thức bên này là một mối đe dọa đối với bên kia. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, yếu tố quyết định thúc đẩy hai cựu thù trở thành bạn bè, đó là sự xuất hiện mối đe dọa về an ninh đối với cả hai bên. Sự bành trướng trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông đã làm thay đổi các tính toán chiến lược của cả Hà Nội và Washington. Đối mặt với thách thức to lớn đến từ phía Trung Quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ giờ đây đang chuẩn bị giảm bớt cáTâm Châu Á - Thái Bình Dương, Bộ Quốc phòng hay chính phủ Mỹ.c bất đồng về ý thức hệ để tập trung vào những lợi ích chiến lược chung.
Bước đột phá mở cửa hướng tới quan hệ đối tác chặt chẽ giữa Mỹ và Việt Nam không diễn ra một lần mà là theo từng bước. Nó bắt đầu từ chuyến thăm Hà Nội của bà Hillary Clinton hồi tháng 07/2012 và sẽ lên tới đỉnh điểm trong chuyến công du Washington của ông Nguyễn Phú 
Alexander L.Vuving là giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á - Thái Bình DươTrọng vào mùa hè năm nay. Tiến trình diễn ra từng bước, nhưng sự thay đổi lại rất to lớn. Cách nay một thập niên, các quan chức tại Hà Nội đã nói với tôi rằng về mặt không chính thức, chính phủ của họ coi Trung Quốc là đồng minh chiến lược, cho dù về mặt chính thức thì không phải như vậy. Ngày nay, mọi người đều hiểu rằng quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ là quan hệ đối tác toàn diện trên danh nghĩa nhưng về nội dung, đó là quan hệ đối tác chiến lược./.

 

Thứ Tư, ngày 15 tháng 4 năm 2015

Báo chí thế giới đồng loạt lên án hành động của Trung Quốc ở Biển Đông

Dân trí 15/4/2015: Trong những ngày qua, báo chí Mỹ và châu Âu đã đồng loạt có nhiều bài viết mổ xẻ các hành động gia tăng căng thẳng của Trung Quốc ở Biển Đông, đặc biệt là việc nước này đẩy mạnh cải tạo, mở rộng đảo.

 >> Trung Quốc ráo riết xây dựng trái phép ở Hoàng Sa
 >> Trung Quốc đưa tàu khảo cổ trái phép tới Hoàng Sa 
 >> Câu hỏi sau những dự án khổng lồ của Trung Quốc

Báo chí thế giới đồng loạt lên án hành động của Trung Quốc ở Biển Đông
Các hoạt động của Trung Quốc nhằm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông đang khiến cộng đồng quốc tế quan ngại (Ảnh: DailyMail)

Thứ Hai, ngày 13 tháng 4 năm 2015

Chuyến đi "lợi bất cập hại"

Duyệt đội danh dự tại Bắc Kinh  
Chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Trung Quốc đã bước sang ngày cuối cùng, tuy chưa hoàn toàn kết thúc nhưng phần nội dung đã được truyền thông của cả hai nước loan báo đủ để những ai quan tâm cũng có thể bình luận mà không lo bị cho là "thiếu thông tin". Theo sự mô tả của truyền thông chính thống của cả hai nước, thì chuyến thăm có vẻ như là thành công lớn nhất kể từ khi Trung Quốc công khai tiến hành các hoạt động bành trướng trên toàn bộ Biển Đông kể cả đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như dọc bờ biển của Việt Nam. Thậm chí có người tin rằng sau chuyến thăm tình hình sẽ tốt đẹp hơn như thể "hết mưa trời lại nắng" vậy ! Đối với người Việt Nam vốn hay lạc quan, thì cảm giác này cũng là dễ hiểu, vì  nếu không, làm sao họ có thể tồn tại dưới cái bóng của gã khổng lồ trong hàng ngàn năm qua (!?) Thôi thì, nếu khi nào còn có thể, hãy sống bằng hy vọng. Nhưng cũng đừng quên những phen vỡ mộng lắp đi lắp lại chỉ trong vòng 1/2 thế kỷ qua. Và cũng đừng quên bờ cõi giang sơn Việt Nam dù  phải dịch chuyển về phía Nam vẫn chưa thể tránh khỏi nguy cơ bị thôn tính.

Thứ Năm, ngày 09 tháng 4 năm 2015

Xu thế ghét Trung Quốc: Vài lời ngỏ cùng Bộ trưởng Phùng Quang Thanh

(Bài do tác giả gửi đến Blog Bách Việt)



Trong bài phát biểu của mình tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2014 của Chính phủ, ông Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng tỏ vẻ bất an và bực bội về hiện tượng tâm lý trong xã hội Việt Nam ta, đó là hiện tượng mà ông ta gọi là xu thế “ghét Trung Quốc”.

Thứ Tư, ngày 11 tháng 3 năm 2015

Bắc Kinh khẳng định Biển Đông là sân nhà của Trung Quốc


Đòi hỏi chủ quyền của các bên tại Biển Đông
Theo RFI, 9-3-2015): Trong một cuộc họp báo ngày 08/03/2015 tại Bắc Kinh, Ngoại trưởng Vương Nghị đã bác bỏ thẳng thừng những phản đối của nước khác về việc Trung Quốc đang đẩy mạnh các công trình bồi đắp đảo nhân tạo tại vùng quần đảo Trường Sa, nơi có tranh chấp với các láng giềng trong đó có Việt Nam. Ông Vương Nghị đã không ngần ngại khẳng định : Biển Đông là « nhà » và là « sân » của Trung Quốc.

Dựa theo câu hỏi của Tân Văn Xã (China News Service) – hãng tin chính thức thứ hai tại Trung Quốc sau Tân Hoa Xã – theo đó phải chăng là hoạt động bồi đắp các bãi đá và rạn san hô của Trung Quốc ở Biển Đông báo hiệu một sự thay đổi trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông và thậm chí đối với cả các láng giềng, ông Vương Nghị đã lại khẳng định là chính sách Trung Quốc không thay đổi.


Thứ Ba, ngày 03 tháng 3 năm 2015

Tư liệu: Liên Xô "chia lửa" với Việt Nam trong chiến tranh biên giới thế nào?

Ngày 16/2/1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố khả năng một cuộc chiến tranh tổng lực chống Liên Xô. Dọc tuyến biên giới Xô - Trung đã tập trung khoảng 1,5 triệu quân PLA, phía Liên Xô đã triển khai hơn 40 sư đoàn...

Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước năm 1975, do những vấn đề phức tạp trong quan hệ giữa các nước trong khối XHCN, Việt Nam khẳng định đường lối chính trị độc lập, tự chủ, không phụ thuộc đã duy trì mối quan hệ chính trị bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và không can thiệp vào nội bộ của nhau với các nước trong khối XHCN.
Liên Xô chia lửa với Việt Nam trong chiến tranh biên giới thế nào?
Tháng 12/1979. Đô đốc Hạm đội Liên bang Xô Viết S.G.Gorshkov, Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô đến Hà Nội để đặt quan hệ công tác với Bộ Quốc phòng CHXHCN Việt Nam. Trong ảnh là Tư lệnh Hải quân Việt Nam, Thiếu tướng Giáp Văn Cương đón đoàn.

Thứ Tư, ngày 28 tháng 1 năm 2015

Chuyện bà “Hoa Trung Quốc” và bà “Hoa Việt Nam”

Bùi HOàng Tám /Dân trí, 28/1/2015  - Bà “Hoa Trung Quốc” đây là gọi bà Hoa Xuân Oánh – người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và bà “Hoa Việt Nam” là bà Huỳnh Thị Như Hoa, một ngư dân Việt Nam.

Thứ Tư, ngày 21 tháng 1 năm 2015

Điều gì đang chờ đợi Việt Nam trên Biển Đông năm 2015?


Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn chắc tay súng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Hình minh họa.

Ngày 16/1 tờ The Diplomat đăng bài phân tích của Khang Vu, một nhà phân tích quan hệ quốc tế từ New London, New Hampshire, Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam có thể tận dụng các mối quan hệ với các nước TPP (Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương) để bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông. Những vấn đề đặt ra cho ngoại giao Việt Nam năm 2015 là một mớ hỗn độn, phức tạp, chủ yếu là do căng thẳng với Trung Quốc ở Biển Đông.

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 1 năm 2015

Quan hệ Việt-Trung đã hết thời triều cống

Đối với người Việt và cả người TQ, những năm chẵn thường được coi trọng hơn hơn năm lẻ. Vậy năm 2015 là con số đẹp đáng được chọn để điểm lại mối quan hệ giữa hai nước láng giềng bất đắc dĩ này, đặc biệt trong thời kỳ 70 năm qua và thời gian sắp tới.

Xâm lấn và bành trướng lãnh thổ là bản chất của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán 

Có thể nói quan hệ Việt-Trung là một trong những cặp quan hệ chứa đựng đầy đủ đặc điểm của loại hình quan hệ giữa các quốc gia dân tộc từ thời thượng cổ đến thời hiện đại, đặc biệt là quá trình đấu tranh sinh tồn của một nước nhỏ trước họa bành trướng của một nước lớn cận kề. Điều này được minh chứng rõ ràng trong cả quá trình lịch sử lâu đời từ thời tiền sử đến ngày nay. Có số liệu tổng kết rằng kể từ khi thoát khỏi ánh đô hộ 1.000 năm Bắc thuộc Việt Nam đã hứng chịu không dưới 12 cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn từ Trung Quốc (chưa kể cuộc chiến tranh biên giới 1979). Lịch sử cho thấy ngay từ thời nhà Hạ bên Trung Quốc tương đương thời vua truyền thuyết Kinh Dương Vương của Việt Nam tức quảng cuối Thiên niên kỷ thứ 3 trước CN, Hán tộc từ phía Bắc đã lấn chiếm lãnh địa của Việt tộc ở phía Nam sông Dương Tử. Đến thời các triều đại An Dương Vương, Triệu Việt Vương (Triệu Đà) và Hai Bà Trưng kéo dài quảng 300 năm trước và sau CN tuy được coi là thời kỳ quật khởi của người Việt nhưng cuối cùng vẫn bị Hán tộc dồn đẩy về phía Nam. Tiếp đến là thời kỳ 1.000 năm Bắc thuộc mà qua đó tộc Lạc Việt không chỉ bị dồn đẩy đến tận cùng phía Nam mà còn đứng trước nguy cơ bị đồng hóa hoàn toàn như nhiều tộc Việt anh em của họ bên Trung Quốc. 

May thay nguy cơ này đã được cứu vãn qua hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của người Việt bản địa kết hợp với những người gốc gác Bách Việt hội tụ về đây để chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất và thiết lập lại nền độc lập tự chủ với bản sắc Việt tộc của mình. Nền độc lập này được khẳng định vào năm 1077 với bài hịch nổi tiếng của Vua Lý Thường Kiệt: 

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tuyệt nhiên định phận tại Thiên Thư, 
Như Hà nghịch lỗ lai xâm phạm, 
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư. 

Cũng hoàn toàn không phải vô cớ mà Vua Quang Trung sau khi đánh bại quân Thanh năm 1792 đã rắp tâm lấy lại vùng lãnh thổ Lưỡng Quảng nhưng không may lâm bạo bệnh qua đời chưa thực hiện được. Điều này cho thấy ý thức về nguồn cội dân tộc và lãnh thổ vẫn luôn còn đó trong tâm thức người Việt. 

Bàn về sự thật lịch sử quan hệ Hán-Việt, một học giả Trung Quốc tên là  Le Oa Đằng mới đây có bài viết cho rằng Việt Nam là hậu duệ, là đại diện của người Bách Việt. Trong bài viết, ông cũng cho rằng người Việt Nam là chủ nhân đích thực của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (chứ không phải như tài liệu tuyên truyền của Bắc Kinh rêu rao). 

Thực tế cũng cho thấy hoàn toàn không đơn giản như một số người vẫn còn ảo tưởng rằng Trung Quốc dưới chế độ cộng sản và XHCN không còn bản chất xâm lược bành trướng! Nói cách khác, không có một phép màu nhiệm nào có thể làm thay đổi bản chất và cục diện quan hệ giữa hai cựu thù mà trong đó nước lớn Trung Quốc luôn lăm le xâm lược và thôn tính nước nhỏ Việt Nam. Mặt khác, thực tế lịch sử cũng cho thấy, dù chưa thể thôn tính và đồng hóa được Việt Nam, nhưng các thế lực bành trướng Đại Hán đã và đang khá thành công trong thủ đoạn kìm hãm Việt Nam trong vòng cương tỏa của chúng để dễ bề tiếp tục lấn chiếm và bành trướng lãnh thổ về phía Nam.

Chuyển hướng bành trướng từ đất liền ra biển 

Trong bối cảnh thế giới ngày nay, mọi quốc gia đều tồn tại trong sự tùy thuộc lẫn nhau một cách cao độ khiến cho việc mang quân xâm lược một cách công khai trắng trợn đối với một quốc gia khác không phải là giải pháp khôn ngoan nếu không nói là không thể thành công. Điều này giới lãnh đạo Bắc Kinh chắc chắn đã nhận ra, nhưng đồng thời cũng nhận thấy rằng niềm tự hào là Vương quốc ở "giữa thiên hạ" (Middle Kingdom) nay lại ở vào thế bị kẹt giữa thiên hạ, và do đó nung nấu tham vọng mở rộng không gian phát triển ra phía đại dương là hướng mà ông cha họ chưa bao giờ nghĩ tới. Nếu như các triều đại Vương Triều xưa chỉ biết mở rộng bờ cõi bằng cách lấn chiếm đất đai của các nước kế cận, thì giới lãnh đạo Trung Quốc ngày nay đã biết coi trong vai trò của biển và đại dương. Và đó là nguyên nhân khiến họ thay đổi hướng xâm lược bành trướng bằng cách lấn chiếm biển đảo của các nước ven  Biển Hoa Đông và Biển Đông, xa hơn sẽ là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, không loại trừ Nam Cực. 
Sơ đồ về phạm vi đòi hỏi chủ quyền của các nước tại Biển Đông 

Tất nhiên để thực hiện hướng bành trướng phi truyền thống này, Bắc Kinh phải tính toán và chuẩn bị kỹ lưỡng theo phương châm "ẩn mình chờ thời" của cựu lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đề ra, bởi lẽ các vùng biển này đều đã có chủ; chỉ còn cách làm sao để "biến không thành có". Và Bắc Kinh chỉ còn cách là xâm chiếm biển đảo của các nước khác cũng như một số vùng biển thuộc hải phận quốc tế.

Để thực hiện âm mưu đó, suốt 70 năm nay giới lãnh đạo Bắc Kinh đã và đang kiên trì bằng mọi thủ đoạn, khi thì giả vờ hữu hảo, khi thì trở mặt gây sức ép quân sự, chính trị, kinh tế đối với Việt Nam. Thời điểm họ lựa chọn đánh chiếm Hoàng Sa đầu năm 1974, rồi đánh chiếm một số bãi đá ở Trường Sa đầu 1988 cho thấy chiến thuật đó. Vụ Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào khoan thăm dò dầu khí sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tháng 6/2014 đồng thời với chiến dịch "đảo hóa" tại một số bãi ngầm giữa Biển Đông đều nhằm phục vụ ý đồ độc chiếm Biển Đông, trong đó mục tiêu chính là thiết lập những "cột mốc chủ quyền" mới của Trung Quốc trên Biển Đông. 

Thay đổi chiến thuật và hướng bành trướng là việc của Trung Quốc. Nhưng có điều trớ trêu là, sự thay đổi hướng bành trướng ra biển như nói trên lại một lần nữa đặt Việt Nam vào thế đối đầu trực diện với Trung Quốc, đơn giản vì Việt Nam là nước có bờ biển chạy dài từ Bắc xuống Nam và cũng là chủ nhân của 2 quần đảo ngoài khơi Biển Đông án ngữ trên con đường bành trướng của "Vương Triều mới". Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc không chỉ đe dọa Việt Nam mà còn đe dọa lợi ích của các quốc gia ven Biển Đông khác cũng như toàn bộ khu vực ASEAN và thế giới, đặc biệt các cường quốc hàng hải  như Nhật, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Anh, Pháp, v.v...  Sự độc chiếm của Trung Quốc đối với 2 quần đảo này đồng nghĩa với việc quốc tế  mất quyền đi lại tự do trên Biển Đông và điều này là không thể chấp nhận được. Nói cách khác, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam nhưng chúng đều nằm trong vùng biển quốc tế và do đó vai trò bảo vệ còn phụ thuộc vào quốc tế . Chính vì lý do này, để tránh sức ép quốc tế, Bắc Kinh luôn một mực khước từ việc "quốc tế hóa" đối với mọi tranh chấp ở Biển Đông đồng thời ra sức chia rẽ nội bộ ASEAN để cô lập Việt Nam.   

Với cục diện đã hoàn toàn thay đổi trên thế giới ngày nay khi mà mọi hành động gây hấn của một quốc gia đều có thể nhanh chóng biết đến trên quy mô toàn cầu. Thế giới đã lập ra nhiều tổ chức quốc tế với rất nhiều thiết chế luật lệ để điều phối các mối quan hệ giữa các quốc gia. Mặc khác, với trình độ giao thông liên lạc vô cùng nhanh nhạy, với các mối quan hệ trao đổi kinh tế, thương mại, khoa học-công nghệ, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng vô cùng đa dạng, đa năng ngày nay thì quảng cách không còn là vấn đề lớn trong khái niệm lựa chọn đối tác, bạn-thù và đồng minh. Trong hoàn cảnh và điều kiện mới của thế giới ngày nay, một nước lớn nếu có ý đồ khống chế hay "bắt nạt" một nước nhỏ quả là không dễ dàng và đơn giản như trong quá khứ. Bài học của Mỹ tại Trung Đông và Nga tại Ucraina hiện nay cho thấy điều này. Và Trung Quốc sẽ không phải là ngoại lệ. 

Trung Quốc đã thay đổi Việt Nam không thay đổi mới là chuyện lạ

Như đã nói trên đây, chính sách bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc vẫn còn đó nhưng hướng và biện pháp đã có những thay đổi cơ bản. Xưa kia Trung Quốc chỉ bành trướng trên bộ, nay bành trướng ra hướng biển và đại dương. Trước đây mỗi khi các triều đại Trung Quốc tiến đánh Việt Nam, dù thắng hay thua, thế giới có thể không biết hoặc biết khi đã quá muộn. Vào thời đó hầu như chưa có khái niệm về sự can thiệp giúp đỡ từ quốc tế.  Trong hoàn cảnh đó Việt Nam không có cách nào khác là phải tự mình tìm cách thích ứng để tồn tại bên cạnh Vương Triều. Đó là lý do của sự ra đời sách lược mềm dẻo khôn khéo và thái độ nín nhịn "tránh voi chẳng xấu mặt nào", kể cả việc phải "triều cống" bằng lễ vật đối với kẻ thù ngay cả sau khi đã đánh bại chúng. Và sách lược đó đã cho thấy hiệu quả trong suốt hàng trăm năm trước đây và đã trở thành nếp nghĩ và là ưu tiên lựa chọn đối với  người Việt Nam trong quan hệ với nước lớn Trung Quốc.  


Tiếp đến trong 70 năm qua sau khi thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp người Việt Nam lại sa vào một cái bẩy mới của Trung Quốc-đó là khái niệm "tương đồng về ý thức hệ" giữa hai nước cùng theo chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Về mặt này, người Việt Nam tỏ ra trung thành hơn cả người Trung Quốc, biểu hiện ở chỗ là, trong khi Trung Quốc liên tục "đổi màu" bằng những bước đi dài với phương châm "mèo trắng mèo đen miễn bắt được chuột" thì người Việt Nam chỉ dừng lại ở khái niệm "đổi mới" chung chung một cách dè dặt. Sau bao phen bị "ông anh" cùng ý thức hệ phản bội bằng những cuộc chiến tranh nóng cùng với các thủ đoạn phá hoại ngầm về kinh tế-chính trị-xã hội khiến Việt Nam phải điêu đứng, nhưng người Việt Nam xem ra vẫn còn hy vọng vào những lời hứa hão huyền "4 tốt", "16 chữ vàng", "lấy đại cục làm trọng", "anh em tốt, láng giềng tốt" v.v...

Lẽ ra khi Trung Quốc thay đổi phương thức và địa bàn bành trướng thì Việt Nam cũng phải thay đổi phương thức đấu tranh, trước hết không việc gì phải quá lo sợ về một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn từ Trung Quốc; điều đáng lo hơn là âm mưu của Bắc Kinh một mặt kìm giữ VN trong vòng cương tỏa của họ, một mặt chia rẽ nội bộ Việt Nam và chia rẽ Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó là thủ đoạn mà Bắc Kinh ráo riết áp dụng từ thời đảng Cộng sản lên nắm quyền và đã khá thành công trong những năm gần đây khi họ nhiều lần "trùm chăn đánh Việt Nam" mà thế giới không biết hoặc chỉ biết khi sự đã rồi. Đó là trường hợp cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc đến các cuộc chiến tranh chớp nhoáng ở Hoàng Sa, Trường Sa, tất cả đều diễn ra tay đôi giữa hai nước cộng sản anh em. Sự kiện giàn khoan HD 981 lúc đầu cũng đã bị ém nhẹm; nếu không được công luận lên tiếng qua mạng internet thì chắc sự im lặng đó còn kéo dài hơn và hậu quả có thể đã xấu hơn. E rằng việc Bắc Kinh đang ráo riết xây dựng căn cứ quân sự tại các bãi đá giữa Biển Đông đang có nguy cơ rơi vào yên lặng và trở thành "sự đã rồi " như các đợt lấn chiếm trước đó. Cho đến nay Trung Quốc chưa trả lại và cũng không có ý định trả lại những phần lãnh thổ biển đảo đã lấn chiếm của Việt Nam.        

Phải chăng bài học đối với Việt Nam ngày nay là không nên ngần ngại hoặc nín nhịn quá mức mà phải thể hiện thái độ công khai dứt khoát đối với mọi vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, đặc biệt tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, theo tinh thần luật pháp quốc tế bất luận Bắc Kinh có bằng lòng hay không. Đồng thời đường lối "sẵn sàng làm bạn với tất cả" cần được thể hiện một cách cụ thể qua việc tăng cường quan hệ với các nước thứ ba như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, v.v... coi đó là nhân tố cần thiết để ứng phó với Trung Quốc trong những tình huống xấu nhất. Vẫn biết quan hệ với Trung Quốc là quan trọng và cần được ưu tiên giữ gìn, nhưng để tránh chiến tranh với Trung Quốc cách tốt nhất là tiến hành các biện pháp răn đe phòng ngừa từ trước, chứ không phải chỉ có nín nhịn cho đến khi nó xảy ra. Trung Quốc không bao giờ từ bỏ tham vọng độc chiếm Biển Đông. Và Việt Nam chỉ có thể bảo vệ mình với sự hỗ trợ của tập thể ASEAN và cộng đồng quốc tế. Ngược lại, ASEAN và quốc tế cần Việt Nam để bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông. Đó có lẽ là cách tiếp cận thực tế và hiệu quả nhất đối với Việt Nam trong bối cảnh tương quan lực lượng của thế giới ngày nay. 
  

Chủ Nhật, ngày 28 tháng 12 năm 2014

Sóng ngầm địa chính trị khu vực và lựa chọn của Việt Nam

Tác giả: Lê Hồng Hiệp/ Nghiên cứu Biển Đông

Trong năm 2014, sự kiện nổi bật nhất của ngành đối ngoại Việt Nam có lẽ chính là cuộc đấu tranh xung quanh sự kiện giàn khoan Hải Dương 981. Việc Trung Quốc cuối cùng phải rút giàn khoan ở một chừng mực nào đó có thể coi là một thành công đối với Việt Nam, nhưng đó cũng là một thách thức còn để ngỏ khi hàng loạt câu hỏi vẫn chưa có lời đáp: Liệu Trung Quốc có tái diễn vụ giàn khoan, nếu có thì ở đâu, và nếu không thì Trung Quốc sẽ có hành động gì trên Biển Đông? Quan trọng hơn, Việt Nam cần phải xử lý mối quan hệ với Trung Quốc ra sao trong bối cảnh rộng lớn hơn là các sóng ngầm địa chính trị khu vực đang diễn biến ngày càng phức tạp?
Bài phân tích này sẽ cố gắng trả lời các câu hỏi trên. Tuy nhiên, trước khi đi vào vấn đề chính là quan hệ Việt – Trung, chúng ta cần điểm lại một số nét chính trong tình hình các quốc gia chủ chốt cũng như bối cảnh địa-chính trị khu vực, những yếu tố vốn có tác động quan trọng tới cục diện quan hệ song phương.

Thứ Hai, ngày 22 tháng 12 năm 2014

Hãy gọi tên kẻ xâm lược

Mấy ngày nay cả nước lại có dịp ôn lại khí thế hào hùng của thời chiến tranh chống Pháp, Mỹ. Những thước phim, vở kịch và rất nhiều bài ca "đi cùng năm tháng" lại được đem ra trình diễn mặc dù đến nay hầu hết những người anh hùng năm xưa đã lần lượt về cõi vĩnh hằng trong khi các mối quan hệ Việt-Pháp, Việt-Mỹ đã chuyển sang trang hữu nghị hợp tác hoàn toàn mới. 

Vẫn biết dù sao việc nhắc lại quá khứ là điều cần thiết. Nhưng liệu có công bằng không khi chỉ nhắc lại hai kẻ thù Pháp, Mỹ mà không nhắc gì đến một kẻ xâm lược đã và đang trực tiếp đe dọa chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước mà vì nó hàng vạn anh hùng liệt sĩ và thường dân đã hy sinh đến nay vẫn là "vô danh"? Và điều quan trọng hơn là, cách thể hiện thiên lệch đó chắc chắn đã và đang gây ra những sự hiểu nhầm không cần thiết đối với thế giới và cả đối với kẻ thù, đồng thời khoét sâu thêm nỗi bức xúc trong dân chúng, đặc biệt những gia đình có con em đã hy sinh trong sự nghiệp chống quân bành trướng xâm lược Trung Quốc. Liệu điều này có lợi cho ai?

Thứ Bảy, ngày 29 tháng 11 năm 2014

Cả khu vực sẽ sát cánh nếu Trung Quốc áp đặt ADIZ trên Biển Đông

Vũ Hoàng (theo Diplomat)-VN-Express, 29/11/2014 
Nếu Trung Quốc áp đặt vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông, chắc chắn cả khu vực sẽ buộc phải sát cánh, để xây dựng một mặt trận chung, chống lại sự bành trướng của nước này.


Các quốc gia trong khu vực có khả năng thiết lập một mặt trận thống nhất chống lại Trung Quốc nếu nước này tuyên bố ADIZ trên Biển Đông. Ảnh: Alamy

Thứ Sáu, ngày 28 tháng 11 năm 2014

Báo Nga: Việt Nam-mục tiêu hoàn hảo của Trung Quốc

Tờ Topwar của Nga vừa đăng tải bài viết nhận định: Nạn nhân đầu tiên của chủ nghĩa bá quyền của Bắc Kinh có thể là Việt Nam.
5 lý do Việt Nam là mục tiêu hoàn hảo cho Trung Quốc

Thứ Bảy, ngày 01 tháng 11 năm 2014

Ngoại giao Con đường Tơ lụa và sự xuyên tạc lịch sử

Tác giả: Tansen Sen | Biên dịch: Phạm Thị Huyền Trang (Theo Yale Global)-VN net 31/10/2014

Với dòng tiền và đầu tư dồi dào, sáng kiến Con đường Tơ lụa của chính phủ TQ có thể thúc đẩy nền kinh tế của nhiều quốc gia châu Á và châu Âu, miễn là các nước này tự nguyện tuyên bố có mối liên kết với đế chế TQ cổ đại.

Lịch sử đang bị bóp méo

Thứ Ba, ngày 28 tháng 10 năm 2014

Báo Hồng Kông: Trung Quốc xuống nước với Việt Nam, nhưng chỉ nói mà không làm


Trong thời gian qua, Biển Đông - khu vực giao thông hàng hải tấp nập nhất thế giới rơi vào tình trạng căng thẳng do những hành động đơn phương mang tính khiêu khích của Trung Quốc, xâm phạm chủ quyền của quốc gia khác. Giờ là lúc Trung Quốc muốn giảm nhiệt căng thẳng bằng ngoại giao. Một Thế Giới xin trích đăng bài viết trên South China Morning Post.

Chủ Nhật, ngày 26 tháng 10 năm 2014

Điểm sách của Bill Hayton: Biển Đông và cuộc chiến tranh giành quyền lực ở châu Á

Tác giả: David Brown
Người dịch: Trần Văn Minh
25-10-2014
H1Trong những vấn đề nan giải toàn cầu, tham vọng bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nên được đưa lên hàng đầu, cùng với thay đổi khí hậu, Thánh chiến và chống vi-rút Ebola. Vấn đề dường như không thể kiểm soát, vì thế giải quyết vấn nạn này đã trở thành sự thử nghiệm quan trọng, liệu trật tự quốc tế có thích hợp với một ‘Trung Quốc đang trỗi dậy’ hay không.

Thứ Sáu, ngày 24 tháng 10 năm 2014

Tìm hiểu về chuyến thăm TQ của Đoàn Bộ trưởng Quốc phòng VN



Báo TQ xuyên tạc: Đoàn Tướng VN sang TQ để cầu hòa "  Đông Bình - GDVN  24/10/2014.  


Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh vừa có chuyến thăm Trung Quốc
Trang mạng sina Trung Quốc ngày 23 tháng 10 đăng bài viết nhan đề "Vì sao Quân đội Việt Nam bất ngờ thăm Trung Quốc cầu hòa, Mỹ có hỗ trợ lớn hơn". Để khách quan nhất, báo GDVN xin đăng tải toàn bộ nội dung bài báo để độc giả rộng đường tham khảo.

Thứ Tư, ngày 15 tháng 10 năm 2014

Vì khó mà bó tay?

Lời bình ngắn của chủ blog Bách Việt: Tác giả cuốn sách về Biển Đông, Bill Hayton  cho rằng Việt Nam không thể cắt đứt hoàn toàn quan hệ với Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền do một số lý do, trong đó có vị trí địa lý "cận kề".  Đúng vậy, nhưng chỉ đúng về mặt quan hệ hữu nghị ngoại giao thông thường...còn quan hệ như thế nào, mức độ và cường độ ra sao là chuyện thuộc quyền của VN. Xin hỏi tác giả, nếu vậy tại sao Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan cận kề TQ hơn nhiều lại có thể tồn tại độc lập và phát triển cao hơn TQ?  Dưới đây là nguyên văn bài trả lời phỏng vấn của tác giả Bill Hayton với đài BBC ngày 14/10/2014. 

 

Việt Nam 'ở thế khó xử với Trung Quốc'

  • 14 tháng 10 2014




Tác giả cuốn sách về Biển Đông cho rằng Việt Nam không thể cắt đứt hoàn toàn quan hệ với Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền. 
Trả lời phỏng vấn với BBC tiếng Việt trong buổi nói chuyện ra mắt sách 'South China Sea: the Struggle for Power in Asia' tại Trường SOAS, London chiều 13/10/2014, ông Bill Hayton cũng nói về khó khăn trong quá trình thu thập dữ liệu cho cuốn sách.
Bill Hayton: Khi tôi bắt tay việc viết cuốn sách này, tôi thực sự muốn biết làm thế nào nhà chức trách Trung Quốc đã vẽ đường chữ U tại Biển Đông và tôi tìm kiếm lời giải thích hợp l‎ý. Và tôi đi đến kết luận rằng thực ra đường chữ U là việc nhà chức trách Trung Quốc vào thập niên 1930 đã hiểu nhầm và diễn dịch sai bản đồ của Anh Quốc theo đó dẫn tới sự hiểu nhầm về sự liên hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Tức là có sự hiểu nhầm là Biển Nam Trung Hoa là một phần thuộc về Trung Quốc.
Tôi đã nói trong cuốn sách rằng thật là kỳ quặc khi nhà chức trách Trung Quốc coi điểm cực nam thuộc về chủ quyền của Trung Quốc là một bãi ngầm dưới mặt biển 22 mét và cách bờ biển Borneo khoảng 100 km. Và câu trả lời dường như rất có thể là kết quả của một lỗi dịch thuật.
BBC: Các dự kiện lịch sử đóng vai trò gì trong tranh chấp chủ quyền?
Vấn đề hiện nay là ở chỗ nhà chức trách Trung Quốc và người Trung Quốc tin rằng hoặc được dậy rằng Biển Nam Trung Hoa hay Biển Đông là thuộc về Trung Quốc về mặt lịch sử. Điều cần làm là nghiên cứu các dữ kiện lịch sử một cách trung lập để xem bên nào tuyên bố phần nào họ có chủ quyền. Tức là thay vì nói là chúng tôi sở hữu toàn bộ Tây Sa và Nam Sa hay Hoàng Sa và Trường Sa, các nước có thể nói rằng chúng tôi có thể chứng minh được rằng chúng tôi là bên đã có chủ quyền về một hòn đảo này hay đảo kia ở khu vực này hay khu vực kia và từ đó có thể bàn thảo với nhau.





BBC: Ông đánh giá sao về ý kiến cho rằng chính phủ Việt Nam không có lập trường đủ cứng rắn trong tranh chấp chủ quyền?
Việt Nam ở trong vị thế khó. Trung Quốc là láng giềng cận kề và là đối tác mậu dịch lớn nhất. Hai đảng cộng sản có những quan hệ có thể xem là khá tốt với nhau. Do đó sẽ là dại dột nếu Việt Nam cắt đứt hẳn liên hệ với Trung Quốc vì kinh tế của Việt Nam có thể kiệt quệ, thất nghiệp sẽ là vấn nạn lớn. Do đó giới lãnh đạo Việt Nam dường như tách tranh chấp chủ quyền ra thành một chuyện riêng biệt trong khi tiếp tục có những mối quan hệ khác.
Tuy nhiên phía Trung Quốc lại không hề tỏ ra có động thái nhượng bộ nào để phía Việt Nam có thể giải thích với người dân của họ là hai bên ít nhất quan tâm tới việc đàm phán. Trung Quốc từ chối nhượng bộ và làm tình hình tồi tệ hơn như trong vụ Bắc Kinh hạ đặt giàn khoan gần đây. Chính phủ Việt Nam ở thế khó vì người dân nói rằng cần phải cứng rắn hơn, tuy nhiên chính phủ có thể làm được gì? Vì nếu họ tiến hành một cuộc chiến thì mọi chuyện sẽ không dẫn đến một kết cục tốt.
BBC: Trong quá trình viết sách ông nhận được sự hợp tác ở mức nào từ nhà chức trách và giới học giả tại Việt Nam và Trung Quốc?
Tôi từng được Học viện Ngoại giao mời tới dự hội thảo về Biển Đông tại Việt Nam nhưng Bộ Công an Việt Nam không cấp visa cho tôi. Quý vị có thể đã biết là tôi không thể tới Việt Nam để nghiên cứu.
Tôi có tới Trung Quốc nhưng dữ liệu thu lượm được cũng khiêm tốn. Phần lớn việc nghiên cứu được thực hiện tại thư viện ở London và các nơi khác cùng với sự hỗ trợ đồng nghiệp tại Đài Loan và kho dữ liệu của Đài Loan.

Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này