Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính sách. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014

VN về cơ bản thất bại trong quá trình công nghiệp hóa(*)

(*)Đó là nhận xét của Thomas J. Vallely - người đã từng có mặt tại Việt Nam trong nhiều thời kỳ khác nhau từ thời chiến đến thời bình với những cương vị khác nhau từ người lính đến nghị sĩ - được thể hiện qua cuộc phỏng vấn mới đây do phóng viên Thanh Tuấn của báo Tuổi trẻ (Nguồn: facebook  ngày 4/4l 2014 ). Bách Việt  xin mạn phép đăng lại để làm tài liệu tham khảo.
Hình ảnh chỉ có tính minh họa 

Thomas J. Vallely:VN về cơ bản thất bại trong quá trình công nghiệp hóa

Năm 1985, hạ nghị sĩ bang Massachusetts (Mỹ) Thomas Vallely lần đầu trở lại Việt Nam kể từ sau cuộc chiến với một mục đích riêng. Là cựu lính thuỷ đánh bộ trong chiến tranh, ông muốn làm bộ phim quảng cáo ngắn cho cuộc chạy đua vào Quốc hội Mỹ vào năm sau.
“Khi đó tôi ghét VN, tôi không phải tuýp người yêu VN ngay từ đầu,” Vallely thừa nhận về lần trở lại đầu tiên.

Bộ phim làm thành công nhưng cuộc chạy đua của Vallely thì thất bại. Nhưng lần trở về của ông không phải là vô vọng. Chuyến đi đó gieo lại ông mong muốn được làm gì đó với VN. Một cử chỉ trả ơn mà ông định là tặng học bổng đưa một sinh viên Việt tới trường chính sách Kennedy của ĐH Harvard trở thành khởi đầu của chương trình Việt Nam tại ĐH Harvard. Có mối quan hệ thân thiết với các thượng nghị sĩ từng là cựu binh như John Kerry, John McCain,...ông là người đưa chương trình học bổng Fulbright tới VN từ năm 1992 – một loạt lãnh đạo của VN hiện tại như Nguyễn Thiện Nhân, Phạm Bình Minh, Cao Đức
Phát,...đều là cựu sinh viên của chương trình này. Sau học bổng Fulbright là chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (FETP) mà sau này được nâng cấp thành trường Fulbright và ông cũng là người sáng lập của quỹ học bổng VEF mà mỗi năm quốc hội Mỹ giành cho 5 triệu USD. Song song với các chương trình giáo dục này là các báo cáo về phát triển và tình hình kinh tế VN cho chính phủ mà ông tham gia cùng với các chuyên gia của ĐH Harvard. Chuyến đi ngắn của năm 1985 trở thành khởi đầu của cuộc gắn bó dài tới hơn 27 năm mà khi nhìn lại ông thừa nhận là “không bao giờ nghĩ mình lại gắn bó lâu tới vậy.”

27 năm qua đi, tối 24-3, giải thưởng Phan Châu Trinh lần thứ 8 về văn hoá và giáo dục đã chính thức ghi nhận những đóng góp của Thomas Vallely cho nền giáo dục VN. Giải thưởng ghi nhận ông vì những
đóng góp quan trọng cho giáo dục đại học ở VN. Ở tuổi 87, nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, chủ tịch quỹ Phan Châu Trinh, bước lên sân khấu để trao giải cho ông. Nhà văn Nguyên Ngọc trong diễn văn kết luận ca ngợi ông “sao hiểu VN đến thế, cặn kẽ và sâu sắc đến thế, thấu đáo và cơ bản đến thế, để kiên định suốt gần ba mươi năm” đem đến cho VN hai điều cơ bản nhất: một cuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường đích thực, và một công cuộc cải cách giáo dục thực sự triệt để và căn bản.

Trong lời đáp từ, Vallely nhắc lại về tư tưởng của Phan Châu Trinh về giáo dục là nền tảng của phát triển và nhắc lại “cải cách giáo dục là thách thức lớn nhất ở VN hiện nay” và nếu không cải cách nhanh chóng giáo dục thì VN có nguy cơ không đạt được “tiềm năng to lớn của mình.” Trong bài đáp từ, ông cũng nhắc về “chủ nghĩa ngoại lệ” (tự coi mình đặc biệt) như một thách thức đối với VN. Cuộc trò chuyện của TTCT với ông bắt đầu từ “chủ nghĩa ngoại lệ.”

Thomas Vallely, ông đề cập tới chủ nghĩa ngoại lệ trong bài đáp từ của mình tại lễ trao giải Phan Châu Trinh như là một thách thức lớn đối với giáo dục VN. Xin ông nói rõ hơn về điểm này.

Trong diễn văn tôi đề cập cả chủ nghĩa ngoại lệ của Mỹ (tự coi mình là đặc biệt) và chủ nghĩa ngoại lệ VN và tôi nghĩ từng nước đều có cái chủ nghĩa ngoại lệ của riêng mình. Khi một nước cân nhắc cách thức đổi mới các trường đại học, họ nên nhớ đến những nguyên tắc nền tảng – ví dụ như tự do học thuật, cơ chế tự chủ, cơ chế trách nhiệm đối với xã hội,... – mà được tất cả các trường đại học hàng đầu thế giới cùng chia sẻ. Các nguyên tắc, giá trị này, không giới hạn ở phạm vi khu vực. Điều đó không có nghĩa là các trường đại học không cần để ý tới các điều kiện văn hoá xã hội – đương nhiên là họ cần. Tuy nhiên, các trường đại học tốt nhất thế giới, dù đó là ở Boston, Berlin hay Bắc Kinh đều có những giá trị nền tảng nhất định. Một cách để tránh cái bẫy tư duy ngoại lệ này là phải so sánh mình với các nước khác bằng cách tham gia các chương trình thi cử quốc tế hay phấn đấu để được các tổ chức quốc tế thừa nhận.

Nghị quyết mới của ban chấp hành trung ương về cải cách giáo dục được giáo sư Hoàng Tuỵ, một người phê phán mạnh mẽ những thất bại của nền giáo dục VN, là nghiêm túc và toàn diện nhất trong vài thập kỉ qua. Ông có đồng ý với giáo sư Hoàng Tuỵ về điểm này?

Từ những gì tôi biết thì nghị quyết đó đưa ra chiến lược rất tốt cho giáo dục VN ở mọi cấp độ.

Ông có quan ngại gì về chiến lược mới này?

Trong hơn một thập kỉ qua, VN đã đưa ra một số chính sách, luật và nghị định liên quan tới giáo dục như nghị định 14, luật giáo dục đại học hay gần đây là nghị quyết của Trung ương. Thách thức đối với VN không phải là chuyện diễn giải chính sách nhưng thường là ở chuyện thực hiện các chính sách đã được
thông qua.

Ông đã gắn bó với giáo dục VN hơn hai thập kỉ qua và từng chứng kiến một loạt quyết sách về cải cách giáo dục. Có cái bẫy hay trở ngại nào có thể làm trật một chiến lược tốt? Có điều gì cần cẩn trọng.

Ở VN và các nước đều có xu hướng là thường coi giải pháp với giáo dục đại học là câu chuyện nguồn lực – rằng đầu tư nhiều nguồn lực sẽ dẫn tới kết quả tốt hơn. Trong khi nguồn lực là cần thiết, đó không phải là yếu tố quan trọng duy nhất. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều lần rằng quản trị giáo dục có lẽ là thành tố quan trọng nhất. Và đó cũng là yếu tố mà rất khó đưa ra đúng được trong chính sách giáo đục đại học.

Với đại học Fulbright mà mà ông đang triển khai, có điều gì khiến ông không hài lòng. Tôi biết dự án đã được lãnh đạo hai nước công khai ủng hộ nhưng có vẻ quá trình triển khai vẫn mất thời gian và có những cản trở hành chính?

Kể từ khi đại học Fulbright được công bố trong tuyên bố chung giữa chủ tịch nước Trương Tấn Sang và tổng thống Barack Obama, dự án đã có những tiến bộ đáng khích lệ. Tôi rất vui mừng với sự hỗ trợ mà chúng tôi có được từ phía chính phủ Mỹ và VN. Tuy nhiên, đại học Fulbright là dự án tư nhân và phi lợi nhuận. Điều đó có nghĩa là mặc dù hỗ trợ của chính phủ là quan trọng, thành công cuối cùng của chúng tôi dựa vào chuyện vận động sự hỗ trợ của các cá nhân, các tập đoàn và các tổ chức thiện nguyện ở VN, Mỹ và các nước. Tôi tin là chúng tôi sẽ là được điều này.

Mọi ngườiđã nói nhiều về các vấn đề của hệ thống giáo dục VN: nhuốm màu tiền bạc, thiếu tự do học thuật, quản trị giáo dục kém...và có vẻ càng nghĩ thì càng thấy bế tắc. Có điểm sáng nào mà ông thấy có thể bám víu vào cho thay đổi?

Rõ ràng tài nguyên lớn nhất của VN, trong giáo dục hay trong mọi lĩnh vực khác, là con người VN. Nơi nào trên thế giới tôi đi tôi cũng gặp những sinh viên và chuyên gia VN rất tài năng. Chuyện thành bại của VN trong xây dựng hệ thống giáo dục đại học có thể hỗ trợ cho phát triển kinh tế và chuyển dịch xã hội phụ thuộc vào khả năng chính quyềncó thể thu hút một tỉ lệ những người trẻ tài năng theo đuổi sự nghiệp trong giáo dục đại học. Đặc biệt quan trọng là những người trẻ đang theo đuổi các bằng trên đại học ở nước ngoài. Họ là thế hệ những học giả và nhà khoa học tiếp theo của VN.

Sau chiến tranh, ông bắt đầu ở VN bằng việc thiết lập chương trình Fulbright, rồi sau đó là chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright,quỹ học bổng VEF rồi giờ là ĐH Fulbright. Tầm nhìn của ông với giáo dục VN khi đó và giờ sau hơn 20 năm có gì thay đổi không?

Tôi đã và sẽ luôn tin tưởng vào sức mạnh của việc trao đổi học thuật. Đầu tư vào giáo dục cho con người là đầu tư cho tương lai của đất nước. Cùng lúc, càng làm việc lâu ở khu vực này, tôi càng nhận thấy giới hạn của trao đổi học thuật. Việc chỉ gửi số lượng lớn người đi du học nước ngoài không đảm bảo

chất lượng các cơ sở giáo dục trong nước sẽ tăng lên. Một phần thách thức lớn của cải thiện giáo dục đại học là tạo môi trường để dẫn đến chất lượng học thuật xuất sắc. Đó là điều chúng tôi đang cố làm tại trường Fulbright và là điều chúng tôi sẽ cố làm ở quy mô lớn hơn tại ĐH Fulbright.

Ông có mất niềm tin vào VN? Phải chăng đó là lý do giờ ông tập trung nhiều vào Myanmar hơn là VN?

Tôi học ra một điều từ lâu rằng không bao giờ được đánh giá thấp người VN. Vì lý do đó tôi sẽ không bao giờ mất hi vọng vào VN.

Dường như những gì ông nói có vẻ ngoại giao lịch thiệp quá?

Không tôi tạo nên được sự nghiệp là nhờ chuyện phê phán VN. Không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà cả về kinh tế,...Nếu không có những lời phê phán đó thì tôi không nghĩ chúng tôi có bất
cứ ảnh hưởng gì.

Xin ông nói thêm một vài ví dụ về chủ nghĩa ngoại lệ ông thấy ở VN?

Như tôi nói hôm trước. Tôi lấy ý tưởng về chuyện ngoại lệ từ một bài báo của giáo sư Hoàng Tuỵ miêu tả tại sao ông thấy ngao ngán vô cùng khi nghe chức danh “giáo sư tiến sĩ” ở VN. Theo nghĩa đó, ở VN tạo ra hệ thống riêng về cách quy định giáo sư (ở các nước hàm giáo sư là do các trường phong) mà không làm như thế giới vẫn làm – nói cách khác VN theo cái ngoại lệ tự họ nghĩ ra. Và khi tự bó hẹp trong cái thế giới của mình mà vẫn nghĩ là mình giỏi thì đó chính là biểu hiện của chủ nghĩa ngoại lệ.

Khi tự nghĩ ta có thể tạo ra một nhóm các học giả mà có cái luật lệ riêng của mình mà không nơi nào trên thế giới làm thì đó có nghĩa là chủ nghĩa ngoại lệ. Và VN có hệ thống giáo dục đại học nghĩ mình là ngoại lệ vậy.

Hãy nhìn giáo sư Ngô Bảo Châu và Đàm Thanh Sơn, họ không hề theo chủ nghĩa ngoại lệ. Họ hoà vào với thế giới. Họ đang dạy ở ĐH Chicago – đó là địa hạt của kiến thức thế giới. Hai giáo sư đó không cần chủ nghĩa ngoại lệ và họ nổi tiếng trên toàn thế giới. Chủ nghĩa ngoại lệ là cái cách mình chối bỏ và nói “tôi không muốn làm điều đó.” Tự chối bó và nói tôi không muốn thành Ngô Bảo Châu hay Đàm Thanh Sơn.

Tôi nghĩ là khá phổ biến ở VN mọi người hay tự nghĩ là mình “ngoại lệ.”

Ông đã làm việc ở VN 30 năm rồi ông có nghĩ chuyện đó là mới không?

Anh biết đấy, tôi đang làm ở Myanmar. Và mọi người hỏi tôi sự khác biệt lớn nhất giữa làm việc ở Myanmar với làm việc ở VN là gì.

27 năm trước khi chúng tôi bắt đầu làm việc với giới lãnh đạo VN, họ rất tự hào – điều có thể hiểu được – về chiến tích quân sự và ngoại giao của mình. Họ chiến thắng đế quốc Mỹ, họ thống nhất đất nước,...cái giá rất lớn nhưng họ làm được. Sự hãnh diện đó dẫn tới việc họ thay đổi sang hệ thống hiện đại hơn và tiến hành Đổi mới.

Ở Myanmar câu chuyện trái ngược hoàn toàn. Họ là những thất bại. Hơn 60 năm mà họ không có tăng trưởng kinh tế. Ở đây vẫn là cái chế độ phong kiến và giờ họ đang hi vọng vào cơ hội thứ hai để vươn lên. Một vài người có tư tưởng cải cách ở Myanmar họ không hề tự hào về quá khứ, họ thấy xấu hổ về nó thì đúng hơn.

Khi bạn chiến thắng trong cuộc chiến thứ 2 và thứ 3 ở ĐÔng Dương, bạn có quyền cảm thấy mình “ngoại lệ.”Nhưng không thể để cái suy nghĩ “ngoại lệ” đó chi phối cả hệ thống của bạn rồi giờ dùng nó như là cái lý lẽ để biện minh (cho trì trệ).

Ông có nghĩ là VN đã tới mức mà rơi vào con đường của thất bại – như kiểu Myanmar?

Không. VN phát triển chậm nhưng Myanmar còn phát triển chậm hơn nữa. Trong các báo cáo mà chúng tôi viết cho lãnh đạo VN, chúng tôi nói rõ là VN đang phát triển rất dưới tiềm năng của họ. VN đáng ra phải phát triển từ 8-10%/năm nhưng thực tế thì có lẽ chỉ phát triển ở mức 3%/năm. VN đã tự để mình phát triển chậm vậy, tiếp tục duy trì hỗ trợ cho những công ty và cá nhân hoạt động không hiệu quả.

VN đã không đưa vào khuônkhổ các doanh nghiệp nhà nước, VN đã không kiểm soát giới đại gia. VN để họ tự tung tự tác và điều đó dẫn tới tốc độ tăng trưởng chậm của VN.

Tôi nghĩ thông điệp đầu năm của thủ tướng VN, nếu đọc kỹ anh sẽ thấy đây là lần đầu tiên một chính trị
gia VN nhấn mạnh sự thay đổi của chính trị gắn liền với thành công. Tôi nghĩ là ông ta đúng. Nếu VN không thay đổi sự tham gia của các nhóm trong xã hội thì sẽ khó mà có tăng trưởng nhanh được.

Khi tôi bắt đầu làm việc ở VN hồi năm 1989, mức thu nhập GDP đầu người giữa VN và Trung Quốc tính theo sức mua (PPP) là ngang nhau khoảng 750 USD . Và giờ thì thu nhập đầu người của Trung Quốc hơn gấp đôi VN rồi. GDP đầu người tính theo sức mua (PPP) của họ sắp đạt 9.000 USD/năm còn VN thì giờ là khoảng 3.500 USD (IMF October 2013 World Economic Outlook). VN đã không tổ chức mọi thứ theo cách hiệu quả hơn như cách Trung Quốc, Hàn Quốc hay Đài Loan làm trong giai đoạn công nghiệp hoá.

VN về cơ bản thất bại trong quá trình công nghiệp hoá và giờ đang phải bắt đầu lại. Tôi nghĩ thông điệp
của thủ tướng về cơ bản nói rất rõ “tôi muốn một cơ hội thứ hai.” Và đó là điều tốt (khi ông nói vậy). Tôi khá ngạc nhiên.

Chủ nghĩa ngoại lệ ở đây là: VN không làm như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan đã làm, mà tự làm theo ý VN muốn. Tôi tiếp tục đưa tiền cho những công ty không hiệu quả, tôi không thể kiểm soát giới đại gia, tôi cứ để chuyện quan liêu tiếp tục, tôi không sửa hệ thống giáo dục,...tôi có thể làm bất cứ thứ gì tôi muốn và tôi sẽ vẫn phát triển được như các nước – đáng tiếc là thực tế đã không diễn ra như vậy.  Chủ nghĩa ngoại lệ chỉ cho tôi tăng trưởng 3% trong khi đáng ra tôi phải tăng trưởng 9%.

Trong 30 năm ông gắn liền với nền giáo dục VN, ông có thấy đó là xu hướng đi xuống của hệ thống giáo dục?

Tôi nghĩ tôi từng thấy đà tiến sau khi VN gia nhập WTO. Khi đó ai cũng nghĩ đó là đà để VN bước tới một nền kinh tế tư nhân hơn – sẽ để tư nhân được chi phối quá trình công nghiệp hoá hơn. Nhưng rồi VN lại lo lắng về chuyện đó và chặn lại đà công nghiệp hoá của khối tư nhân.

VN chấp nhận để cho khối doanh nghiệp FDI được phát triển mạnh nhưng với khối phi-FDI thì VN lại đi ngược lại về hệ thống phi kinh tế thị trường trước kia. Đó là điều cần thay đổi vì cách vận hành đó không hiệu quả.

Như anh thấy, khối tư nhân thực tế bị kìm chân lại. Khối ngân hàng lấy tiền rồi cho những người không hề có năng lực, không hiệu quả vay. Đó là điều làm cho kinh tế phát triển chậm. Sự tăng trưởng chậm đã kéo dài ở VN. Trung Quốc đã phát triển tốt hơn VN rất nhiều lần. Trong giai đoạn từ 1989-2014, GDP đầu người của Trung Quốc đã tăng hơn gấp đôi so với VN. Họ kỉ luật hơn trong quá trình công nghiệp hoá và họ ít chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa ngoại lệ.

Tôi nghĩ về nhân sự VN cần một cơ chế như tập đoàn Viettel. Một hệ thống mà bạn có thể sa thải người nếu không hiệu quả. Ở Trung Quốc, nếu giáo sư làm việc không tốt thì anh thôi không được làm giáo sư nữa.

Có điểm nào trong chiến lược giáo dục mới khiến ông chú ý không?

Tôi nhớ nghị quyết 14/2005 của chính phủ về đổi mới giáo dục cuối cùng thì dường như VN chẳng thực hiện nghị quyết đó. Nghị quyết đó cũng tốt nhưng cuối cùng thì VN chẳng làm gì cả. Vấn đề luôn là triển khai chứ những gì họ nói thì đều ổn.

Nếu về nghị quyết có lẽ tôi sẽ viết khác đi về vấn đề nhân lực. Tôi cũng nghĩ là chuyện tự chủ (đại học) là không đủ mà còn cần nói về quản trị giáo dục. về quản trị, ở VN hệ thống quản trị giáo dục vẫn đóng. Chưa có cơ chế mở về lựa chọn hiệu trưởng hay hội đồng lãnh đạo đại học ở VN nhưng không nên lẫn lộn giữa tự chủ và quản trị giáo dục. Giáo dục VN cần sự quản trị giáo dục mới – một sự quản trị mà tạo ra được thành tựu về mặt học thuật. Quản trị giáo dục nên tư duy như kiểu các hãng tư nhân vận hành: hệ thống cũ vận hành không tốt thì nên thay đổi. Ở ĐH Fulbright, chúng tôi sẽ vận hành khác đi.

Từ cái báo cáo về giáo dục đại học năm 2008 mà ông viết cùng với Ben Wilkinson thì các vấn đề đã thay đổi thế nào?

Thực tế thì có rất nhiều người trong Đảng muốn đẩy những ý tưởng chúng tôi đưa ra (trong báo cáo).

Giáo dục thực tế rất giống một hệ thống độc quyền. Nếu anh để các nhóm tư nhân tham gia vào, hệ thống giáo dục sẽ thất bại. Giáo dục không thể là mô hình vì lợi nhuận được. Các đại học ở Mỹ không phải là các trường vì lợi nhuận. Ngay kể cả các đại học tư nhân thì họ cũng không phải vì lợi nhuận. Nếu để kiếm tiền thì anh sẽ chẳng bao giờ có những khoa như vật lý học, anh chẳng thể kiếm tiền bằng việc dạy kịch Shakespeare, không thể kiếm tiền khi anh dạy nhạc, dạy nhân chủng học hay triết học. Thực tế là anh lỗ. Và anh cần nhà nước phải trợ cấp thông qua tiền học hay thông qua các dự án nghiên cứu. Đó là lời khuyên của chúng tôi cho chính phủ VN – đừng dùng hệ thống giáo dục chỉ toàn các tập đoàn tư nhân.

Vậy trường đại học Fulbright sẽ khác thế nào?

ĐH Fulbright là đại học phi lợi nhuận. Chúng tôi không cố kiếm lời bằng trường ĐH Fulbright. Đây sẽ là
đại học phi tư lợi nhuận đầu tiên ở VN mà không phải là công ty. Cái mới ở ĐH Fulbright là chúng tôi không chỉ muốn dừng là ĐH mới tốt nhất ở VN mà chúng tôi muốn một đại học mới tốt nhất trên thế giới.

Chúng tôi không định mang Harvard tới VN mà chúng tôi chỉ muốn dùng hệ thống công nghệ mới cho giáo dục, một đại học hàng đầu ở thế giới đang phát triển.

Trong gần 30 năm vừa rồi, điều gì khiến ông thất vọng nhiều nhất trong quá trình làm việc tại VN?

Tôi vẫn nghĩ VN sẽ thành công hơn thế. VN đã phát triển dưới sức của mình. VN đã có thể, và đến giờ vẫn còn tiềm năng để thành công – nhưng tự các bạn quyết định là không muốn thành công như vậy. Và điều đó làm tôi thất vọng.

Sao ông nói là tự quyết định không muốn thành công?

Khi tôi đọc thông điệp đầunăm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tôi có cảm giác như ông có đọc cuốn sách “Why Nations Fail” (Tại sao quốc gia thất bại). Thông điệp của cuốn sách là các nước phải có những thể chế kinh tế và chính trị có sự tham gia đầy đủ của các đại diện (trong xã hội). Để là một đất nước tăng trưởng nhanh và hùng mạnh, thì cần đủ cả thế chế kinh tế và chính trị mang tính đại diện như vậy.

Đó là điều còn thiếu (tại VN) và quyết định không làm điều đó đồng nghĩa với việc là tự quyết định không
muốn mình thành công. Quyết định đó tiếp tục được lặp lại để tạo ra một sự cân bằng chính trị mà không tạo ra thay đổi. Điều đó không chỉ gây thất vọng cho tôi mà còn gây thất vọng với tất cả những người sống ở đây.

Hệ thống giáo dục VN thì đang khủng hoảng và ông nói về việc xây dựng một trường đại học hàng đầu thế giới. Có vẻ là xa vời quá chăng?

Đó là thách thức rất lớn. Nguồn lực về con người là nguồn lực lớn nhất của VN.
Chúng tôi vẫn nói điều này. Một điều mà ở hệ thống giáo dục VN vẫn còn sự liêm chính chính là cuộc thi
đầu vào ở Đại học. Các ĐH công không phải là tốt nhưng những học sinh giỏi vẫn thi vào đó. Và bài thi đầu vào vẫn còn được đảm bảo (không bị tham nhũng). Chúng tôi sẽ cố tận dụng và khai thác điểm đó – vẫn còn nhiều người trẻ, giỏi đi thi đại học. Chúng tôi sẽ làm điều đó – đến giờ chưa có trường nào tận dụng được điều đó hết. Chúng tôi không phải là xây trường ở một nơi không có gì hết.

Khi tôi ở Mỹ, mọi người cũng suốt ngày tranh cãi về chuyện chất lượng giáo dục rồi đổi mới giáo dục ở đó.

Những trường chất lượng cao nhất ở Mỹ vẫn rất đảm bảo. Những trường ở top 200 ở Mỹ thì chất lượng vẫn rất tốt.

Ông có thấy những tín hiệu tích cực gì ở VN. Như ông nói tín hiệu tích cực trong bài thông điệp của thủ tướng

Tôi có thấy. Tôi nghĩ thông điệp của thủ tướng là rất ấn tượng. Tôi nghĩ điều ông muốn nói là hãy tiếp
tục cuộc đối thoại về hiến pháp đã làm từ năm ngoái. Năm ngoái khi ở VN có làm góp ý về hiến pháp các bạn có hơn 25 triệu ý kiến tham gia góp ý. Tôi nghĩ có xu hướng muốn ủng hộ việc cải cách về quản trị, về điều hành và cuộc tranh luận đó là rất sôi nổi. Tôi nghĩ thủ tướng muốn tiếp tục xu thế đó và muốn duy trì cuộc đối thoại từ năm ngoái – ông thấy những giá trị trong cuộc tranh luận đó và muốn tạo ra sự thay đổi về chính trị và tôi nghĩ đó là thông điệp rất tốt từ một chính trị gia đang tìm cái cơ hội thứ hai cho bản thân.

Một trong những điều đã thay đổi VN chính là nhờ internet. Chính trị VN giờ rất sống động cũng nhờ điều này. Internet thực tế là thành tựu của chính quyền. Chính chính quyền tạo ra sự phát triển sống động của hệ thống viễn thông này.

Tôi có nói về Viettel bởi chính nhờ Viettel mà đã có sự cạnh tranh (trong ngành viễn thông). Khi anh có cạnh tranh, thực tế người Việt thường làm rất tốt – trong khi với hệ thống mệnh lệnh thì anh chỉ phát triển chậm. VN thực tế sẽ giỏi khi đẩy vào môi trường cạnh tranh. VN vẫn còn cơ hội để có thể vào nhóm các nước thành công nhưng VN phải nhanh chân lên.

Mọi người vẫn nói về Myanmar như một điểm sẽ cạnh tranh với VN.

Myanmar là cái nơi hoàn toàn khác. Đó vẫn là chế độ phong kiến ở Myanmar. Chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn phát triển và tốt hơn nhiều. VN sử dụng chế độ toàn trị để đi từ đói nghèo sang một nước có thu nhập trung bình. Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Trung Quốc đều như vậy. Nhưng khi đã lên tới thu nhập trung bình thì phải nghĩ cách làm khác. Và đó là cái chỗ VN đang vướng lúc này. Myanmar thì thậm chí còn chưa tới cái điểm bằng VN khi VN bắt đầu xã hội chủ nghĩa sau 1945.

VN giờ vẫn là đối tượng chi phối trong mô hình Trung Quốc+1. VN vẫn là điểm đổ đến của FDI trong mô
hình Trung Quốc+1. Nhưng giờ nó ở mức giống như là anh có quá nhiều nguồn vốn FDI rồi. VN rơi vào trạng thái “lời nguyền tài nguyên.” Nhưng thay vì có dầu như kiểu Putin, VN lại có vốn FDI và FDI quá nhiều đã che hết nhưng cái xấu và vấn đề ở nội tại VN.

FDI giờ giống dầu. VN làm rất nhiều điều sai nhưng nhiều khi không để ý tới những cái sai đó (vì có FDI
che chắn cho). VN bị rơi vào trạng thái nghiện FDI (giúp che chắn sai lầm) và không chịu thay đổi. Giờ thì thủ tướng VN nói về chuyện kết nối giữa chính trị với thay đổi, nói về nền chính trị với sự đại diện của các nhóm trong xã hội. Đó là điều rất quan trọng.

Thời điểm những năm 80 đó có bao giờ ông nghĩ mình sẽ dính líu với VN lâu tới vậy?

Không, không bao giờ nghĩ là lâu tới vậy. Thực sự thì tôi mừng là sự nghiệp chính trị của tôi thất bại. Tôi thích cái nghiệp này hơn nhiều so với cái nghiệp trong chính trị nếu tôi còn theo đuổi. Nên tôi vẫn hay nói là may là tôi tranh cử thất bại.

 Đó là cái nghiệp thú vị. Tôi được ở cái ghế đầu để chứng kiến những biến chuyển của VN trong thời gian dài: cả những thành công cũng như nhưng yếu kém ở VN. Tôi có cái sự nghiệp khá thú vị ở VN. Nhưng sự thật thì sự nghiệp của tôi ở VN không chỉ đơn thuần là về VN mà về sự phát triển của VN, và quá trình xây dựng một đất nước.

Quan hệ tôi với VN giống như là cái mối quan hệ yêu-ghét. Có khi tôi yêu VN, có khi thì VN khiến tôi muốn phát khùng.

In box:
“Bất kỳ một nền giáo dục đại học có chất lượng nào đều có một số đặc điểm có tính phổ quát, vượt ra khỏi bối cảnh địa phương. Những trường đại học xuất sắc nhất trên thế giới có chung một số thuộc tính cơ bản, trong đó bao gồm tự do học thuật, trọng dụng nhân tài, và minh bạch. Nỗ lực cải thiện giáo dục đại học mà bỏ qua những phẩm chất vô hình này thường không bao giờ đem lại kết quả mong muốn. Các trường đại học nên bắt rễ sâu từ nền văn hóa bản địa, nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu dùng văn hóa bản địa là cái cớ để hạn chế những nguyên tắc cốt lõi của đại học, như tự do học thuật
chẳng hạn.” (trích đáp từ của Thomas J. Vallely)

Thứ Hai, ngày 14 tháng 4 năm 2014

Cưỡng chế thế này sao không mất lòng tin?

Vào dịp này năm ngoái dư luận cả nước đổ dồn vào vụ cưỡng chế một công trình xây dựng trái phép tại phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Các nguồn tin chính thức lúc đó cho biết, đó là khu đất có ký hiệu  NO4-X với diện tích hơn 1.700m2 do Công ty CP Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng (INDECO) làm chủ đầu tư. Cùng thời gian này INDECO còn được UBND Thành phố Hà Nội cấp phép đối với hàng chục dự án xây nhà ở để bán tại một số khu đất kẹt khác thuộc Phường Dịch Vọng và việc này cũng đang bị nhân dân phản đối rất dữ dội. Các cơ quan chức năng cũng đã kết luận đây là trường hợp tham nhũng có tổ chức, được "bảo kê" từ dưới lên trên, và nhờ đó đã kéo dài trong nhiều năm bất chấp sự cảnh báo, phản đối và khiếu kiện từ công chúng. 

Khi đó dù biết rằng cuộc cưỡng chế là miễn cưỡng và chỉ nhằm xoa dịu sự bức xúc của người dân... nhưng dư luận công chúng vẫn hả hê khi thấy công trình được "xử lý".   

Thứ Năm, ngày 16 tháng 1 năm 2014

Hoàng Sa: VN cần hành động để thế giới hiểu

Việt Nam cần phải có những hành động, hoặc ủng hộ hoặc tự mình làm, để chứng minh cho thế giới biết là Việt Nam đấu tranh để bảo vệ an ninh và luật pháp quốc tế.
>>40 năm Hải chiến Hoàng Sa: Khi nước lớn quyết ra tay
Ngô Vĩnh Long, Hoàng Sa, Biển Đông, chủ quyền lãnh thổ, Harvard, hải chiến Hoàng Sa
GS Ngô Vĩnh Long
>> Vì sao Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974?
>> Sau 40 năm nhìn lại hải chiến Hoàng Sa
LTS: Ngày 11.1.1914, nhân kỷ niệm 40 năm Hải Quân Trung Quốc cưỡng chiếm phần còn lại của Hoàng Sa từ tay Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, một nhóm học giả Mỹ đã đứng ra tổ chức một cuộc hội thảo tại không viên Đại học Harvard. Tuần Việt Nam có bài phỏng vấn GS Lịch sử Ngô Vĩnh Long của Đại học Maine (Hoa Kỳ), người có bài tham luận lại hội thảo này.

Thứ Ba, ngày 31 tháng 12 năm 2013

10 phát ngôn "đáng suy nghĩ" năm 2013 (của các vị LĐ cả đây,bà con)


10 phát ngôn "đáng suy nghĩ" năm 2013

"Không tham nhũng lấy đâu tiền chạy chức"Sáng 18/9, tại cuộc họp thảo luận về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2013, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhận định: “Không tham nhũng lấy đâu tiền mà chạy chức vụ này chức vụ kia…”.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.
Chủ tịch Quốc hội cũng cho rằng cần nói rõ lực lượng đấu tranh phòng chống tham nhũng có tiêu cực, bỏ sót, bao che không? Có tham nhũng trong đấu tranh phòng chống tham nhũng hay không?”.
"Bên cạnh thanh tra, các ngành kiểm toán, điều tra, kiểm sát, tòa án thì sao, đã làm hết trách nhiệm chưa?", Chủ tịch Quốc hội đặt hàng loạt câu hỏi.

Thứ Hai, ngày 16 tháng 12 năm 2013

'VN không hai lòng trong quan hệ với TQ' (*)

(*) Đây là tiêu đề  bài viết vừa đăng trên Vietnam net mà có lẽ ai đọc cũng  thấy lạ vì nó như một lời thanh minh  hoặc là "không khảo mà xưng vậy! Chủ blog tôi xin đăng lại ngyên văn bài báo đồng thời thử gợi ý rằng, nếu thêm dấu huyền vào chữ "hai" thì đúng với sự thật hơn chăng(?). Bởi vì ai cũng biết trong quan hệ với TQ,  VN chưa bao giờ chủ trương thay lòng đổi dạ, nhưng hiếm khi được hài lòng với ông bạn láng giềng phương Bắc (Bách Việt).
Xin mời đọc nguyên văn nội dung dưới đây.

Thứ Hai, ngày 09 tháng 12 năm 2013

Sao lại sợ về hưu? (*)

Đôi lời bình của Bách Việt: Đó là tiêu đề của một bài báo mới đang được loan truyền trên nhiều tờ báo chính thức và trên mạng hiện nay với rất nhiều ý kiến quan tâm bàn luận trái chiều nhau. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay trái chiều thường là chuyện của công luận , còn quyết định là của Lãnh đạo, và quan niệm thế nào là nhất trí là một phạm trù rất trừu tượng phụ thuộc vào đối tượng là ai, nên chi có nhiều quyết định của Lãnh đạo tỏ ra  "trái khuấy", ra rồi lại sửa hoặc hủy...Có lẽ khỏi cần nhắc lại ở đây,  chỉ nhìn vào 2 chủ đề mới đây nhất là nâng tuổi nghĩ hưu tăng thời gian nghỉ Tết lên 9 ngày thì cũng đủ thấy tình trạng nói trên. 
Đúng là Việt Nam ta có rất nhiều sáng tạo nhiều khi rất "mạnh tay", nhưng tiếc thay lai ngược dòng hoặc chậm trễ so với thế giới thì phải(?) Hỏi có mấy nước có ngày nghĩ cuối năm dài như Việt Nam để rồi làm bù cả tuần không được nghỉ? Họ đưa ra lý do "như thật "để giảm ách tắc giao thông..." và "kích cầu du lịch..." Nhưng thực ra đó chỉ là cung  cách tùy tiện bất chấp luật lệ. Về tuổi nghĩ hưu, thế giới người ta đang muốn giảm mà không được (vì thiếu nhân công) thì Việt nam lại muốn tăng trong điều kiện "dân số vàng" mới lạ chứ(!?) Không biết rồi đây thế hệ vàng sẻ được sử dụng làm gì khi thế hệ già vẫn ngồi chình ình ở công sở? Phải chăng ở đất nước này khái niệm "đi làm" đồng nghĩa với "công chức", còn tất cả những việc làm khác đều vô nghĩa? Thiết nghĩ cải cách gì thì hãy nên cải cách trước lối tư duy đậm đặc mùi phong kiến  cổ hủ này cái đả! (Bách Việt)

Thứ Năm, ngày 21 tháng 11 năm 2013

Con thuyền thúng Việt Nam(*)

 (*)Đây là tiêu đề bài viết của tác giả: Phan Dương. Mình thích những bài viết ngắn gọn ... còn quan điểm thế nào thì để dành cho bạn đọc. Vậy xin mạn phép "chom" về Bách Việt.

Ảnh HDTG
Ảnh HDTG
Tối qua, đọc được bài của bác Lê Phú Khải mà cứ nằm nghĩ mãi. Chuyện Liên Xô sửa hiến pháp cách đây 22 năm với phát biểu của ông đảng trưởng đảng đối lập của họ hồi đó. Sao giống Việt Nam ta bây giờ quá đổi.
Ông này đã nhận định và nó đã đúng với trường hợp của Liên Xô sau 22 năm trôi qua.  Ông bảo “Liên Xô chúng tôi là một cái chiến hạm đang mắc cạn, còn Việt Nam của các đồng chí là một con thuyền thúng không biết nó trôi về đâu”. Ghép lại với cái phát biểu của bác đảng trưởng Trọng của ta hôm 23/10/2013 trước toàn thể đại biểu Quốc Hội về vấn đề sửa đổi hiến pháp: ”…Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa…”.

Thứ Tư, ngày 23 tháng 10 năm 2013

Khi ngành nào cũng tự hào lớn mạnh

Nhân ngày thành lập Ủy ban Kiểm tra trung ương (của Đảng)-16/10/1948-16/10/2013, các vị lãnh đạo và  phương tiện thông tin đại chúng đồng loạt ca ngợi sự "trưởng thành vượt bậc" về số lượng và chất lượng của ngành Kiểm tra. Mới nghe thật phấn khởi, nhất là người trong ngành rất đỗi tự hào. Sao không (?), nếu biết khi mới thành lập chỉ có 3 biên chế đến nay đã có hơn 6.000 cán bộ chuyên trách từ cấp quận, huyện trở lên và hơn 65.000 cán bộ kiểm tra kiêm chức, tức là tăng hơn chục vạn lần. Nội dung công việc tất nhiên là rất lớn, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu... vì tình trạng sai phạm ngày càng nhiều và nghiêm trong hơn bởi chính đội ngũ công chức ngày càng phình to.

Chủ Nhật, ngày 29 tháng 9 năm 2013

Hiểu ý Bác Tổng rồi!

Theo TT Ngày 28-9-2023, http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/571539/khong-nen-quy-dinh-cung-tong-bi-thu-kiem-chu-tich-nuoc.html Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri các quận Tây Hồ và Hoàn Kiếm (TP Hà Nội) trước kỳ họp thứ 6 của Quốc hội đã đề cập hàng loạt vấn đề hệ trong của đất nước, trong đó có đoạn này mình thấy rất tâm đắc.

“Cơ chế Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước đã có nhiều ý kiến nêu ra từ mấy nhiệm kỳ rồi. Trung Quốc và Lào cũng có cơ chế như vậy. Ở nước ta, vấn đề này do Đảng phân công, còn Chủ tịch nước thiết chế bộ máy nhà nước không phải cá nhân con người cụ thể. Tùy từng giai đoạn có thể kiêm hay không kiêm là do trung ương phân công Tổng bí thư sang làm Chủ tịch nước, đó là việc nội bộ không nên ghi “cứng” vào Hiến pháp. Cũng phải nói thật, đề phòng trường hợp quyền lực quá tập trung vào một người, xảy ra cái gì nếu tốt là phúc cho dân tộc, nhưng chẳng may nếu tính toán không kỹ thì để lại hậu quả. Bây giờ Chủ tịch nước lại là chủ tịch Hội đồng Hiến pháp nữa thì quyền to quá. Ta là cơ chế lãnh đạo tập thể. Bác Hồ nói rồi, nguyên tắc là lãnh đạo tập thể, phân công trách nhiệm cá nhân. Phát huy được dân chủ thì tốt hơn”.

Thứ Năm, ngày 19 tháng 9 năm 2013

Bỏ ghi họ tên cha và mẹ trên chứng minh nhân dân

Sau bao tốn kém thời gian công sức và tiền bạc, cái ý tưởng không giống ai đã bị xếp vào sọt rác. Đó chỉ là một trong rất nhiều minh chứng về nền hành chính công rườm rà được vận hành bởi những quan chức tham, sân, si.., nhàn cư vi bất thiện. Sở dĩ họ đưa ra "sáng kiến" ghi tên cha mẹ vào CNND vì nó có lợi đôi đường: Nhìn vào CMND là biết con ông/bà lớn nào để không phạm úy, đồng thời để đồng đội nhận biết con của nhau mà tha tội. Chỉ vì một lợi ích cá nhân cỏn con mà rách việc thế đấy! -(Bách Việt).  

Chủ Nhật, ngày 25 tháng 8 năm 2013

Vì sao càng học tập tấm gương Bác Hồ, đạo đức càng yếu kém?

Đó là câu hỏi vấn vương trong đầu nhiều người Việt Nam nhưng ít ai nói ra mà thôi. Với những phong trào rầm rộ và rất nhiều đề tài nghiên cứu tốn kém, năm nào cũng diễn ra những đợt vận động học tập tấm gương đạo đức của Bác Hồ. Việc học thì nhiều, nhưng  kết quả thế nào thì chưa có báo cáo nào nêu lên một cách toàn diện và thật sự khách quan. Tuy vậy, cứ nhìn vào tình trạng đạo đức xã hội ngày càng xuống cấp, tệ nạn tham nhũng ngày càng nghiêm trọng, quan chức ngày càng  quan liêu, độc đoán và tham quyền cố vị trong khi bộ máy hành chính ngày một phình to, thủ tục hành chính ngày càng rườm rà... ta sẽ thấy một sự tương phản quá rõ rệt giữa mục đích và kết quả. 

Thứ Hai, ngày 05 tháng 8 năm 2013

Bóng đen của chủ nghĩa diệt chủng đang trở lại Cămpuchia?

Sam Rainsy
Sam Rainsy và các đảng viên đối lâp đang vận động bầu cử tại
Theo BBC, chủ nhật, 4 tháng 8, 2013, thì trang mạng Hoa ngữ Hoa Thương Thời Báo phát hành tại Campuchia hôm 2/8 cho hay: Sam Rainsy, lãnh đạo Đảng Cứu quốc đối lập của Campuchia, đã phát biểu rằng đảng ông xem Trung Quốc là một đồng minh quan trọng.
Ông cũng tỏ rõ sự ủng hộ dành cho Trung Quốc trên vấn đề tranh chấp trên Biển Đông. Nhà lãnh đạo đối lập Campuchia cũng gửi những thông điệp hữu nghị đến với Chính phủ và người dân Trung Quốc.

Thứ Ba, ngày 09 tháng 7 năm 2013

Sách lược hay chiến lược?

Có ít nhắt là 3 thực tế liên quan đến tình hình Việt Nam trong vòng 1 tháng qua kể từ sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến Trung Quốc.

Một là, tình trạng sản xuất tiếp tục sa sút, nguồn thu ngân sách không đủ chi, giá ngoại hối USD tăng, giá vàng nhảy múa trong khi các mặt hàng đều tăng, đặc biệt giá điện tăng đột biến do ngành điện lạm thu của khách hàng (tham khảo tại đây). Hoàn toàn không khó khăn gì để bất cứ ai cũng nhận ra những hiện tương tương tự. 

Đó là gì nếu không phải là biểu hiện của tình trạng lộn xộn trong kinh doanh với những hình thái "chụp giựt", "tự cung tự tiêu"... trên quy mô cả nước. 

Thứ Ba, ngày 18 tháng 6 năm 2013

Thánh dạy: Vào tuổi bốn mươi không lầm lẫn nữa (*)


(*)Day la tieu de bai viet vua duoc dang tren Bauxit VN ngay 10/6/2013. Ban than chu blog Bach viet dang di du lich, khong co dieu kien "cham soc" blog cua minh...do do xin man phep dang lai bai viet nhu mot "tai lieu tham khao". Neu co gi khong vua long xin ban doc luong thu.

Bốn thập kỷ hết đánh nhau,

Ngẫm mình lạc hậu mà đau đớn lòng!
Đã gần bốn thập kỷ trôi qua, kể từ 1975. Sau gần bốn thập kỷ ít đánh nhau, xã hội Việt Nam hiện nay phân thành hai nhóm lớn, nhóm U50+ (45 tuổi trở lên) và nhóm U45- (dưới 45 tuổi). Nhóm tuổi trẻ U45- là nhóm ít dính líu trực tiếp với quá khứ, dù cho lớn lên ở trong hay ngoài nước, đối với họ, thay đổi cái cũ lỗi thời để Việt Nam có một thể chế hội nhập, tiến bộ, hòa hợp dân tộc, là điều ít phải bàn cãi. Tuy nhiên, dẫn dắt gia đình và xã hôi, cả kinh tế và chính trị, cả đức tin và tâm linh, ân oán vay trả hiện tại và tương lai…lại thuộc nhóm U50+. Do những trái nghiệm cuộc sống, họ phải cân nhắc nhiều điều là tất yếu. Vì vậy, những điều được viết dưới đây, là những nhận xét không định kiến, với mong muốn cung cấp cho nhóm U50+, thuộc mọi phía, mọi nơi, một góc nhìn khoa học khách quan để tham khảo.


Thứ Bảy, ngày 01 tháng 6 năm 2013

Phát biểu của TT Nguyễn Tấn Dũng tại HN Sangri-La

Nguồn: VietNamNet: Giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Đối thoại Sangri-La ngày 31/5/2013 (các tiêu đề phụ do VNNet đặt)

thủ tướng, singapore, nguyễn tấn dũngMuốn có hòa bình phải có lòng tin chiến lược
Ngôn ngữ và cách thể hiện dù có khác nhau, nhưng chắc chúng ta đều đồng ý với nhau: nếu không có lòng tin thì không thể thành công, việc càng khó càng cần có niềm tin. Việt Nam chúng tôi có câu thành ngữ “mất lòng tin là mất tất cả”. Lòng tin là khởi nguồn của mọi quan hệ hữu nghị, hợp tác; là liều thuốc hiệu nghiệm để ngăn ngừa những toan tính có thể gây ra nguy cơ xung đột. Lòng tin cần được nâng niu, vun đắp không ngừng bằng những hành động cụ thể, nhất quán, phù hợp với chuẩn mực chung và với thái độ chân thành.

Thứ Ba, ngày 28 tháng 5 năm 2013

Nợ công của Việt Nam đang ở mức nào?

Báo Dân trí ngày 27/5/2013 có đăng bài viết với tiêu đề "Nợ công đã lên tới 95% GDP?" cho thấy những số liệu đáng kinh ngạc dưới đây.  

Tổng nợ công năm 2012 ước tính khoảng 55,4% GDP. Tuy nhiên, nếu tính cả nợ trong hệ thống ngân hàng của DNNN và khoản nợ bằng trái phiếu trong nước không được Chính phủ bảo lãnh khác thì nợ công Việt Nam lên tới 95% GDP, vượt xa ngưỡng an toàn 60% GDP.
Đồng hồ nợ công của Việt Nam trên Economist: Mỗi người dân "cõng trên lưng" 817,74 USD nợ công.

Thứ Sáu, ngày 24 tháng 5 năm 2013

Tìm lại những giá trị bị đánh mất?

Một cửa hàng tạp phẩm thời bao cấp tại Hà nội
Từ những năm 1970 của thiên niên kỷ trước, ở miền Bắc đã có câu chuyện tiếu lâm rằng đất nước ta giống như người  mù cụt một chân chống nạn đi và đi mãi để rồi thấy mình trở lại điểm  xuất phát. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời bấy giờ đó là một cách "phản biện" dù không có mấy tác dụng. Và câu chuyện vẫn lưu truyền đến ngày nay với ngày càng nhiều hơn những minh chứng về cái sự đi vòng tròn như thế .

Thứ Tư, ngày 15 tháng 5 năm 2013

VN Hãy bằng mọi cách tránh kịch bản thứ ba

Nội dung dưới đây xuất phát từ BBC nhưng có lẽ được dịch và soàn một cách hơi cẩu thả, nhiều từ ngữ tiếng Việt không hoàn toàn chuẩn xác có thể làm người đọc khó hiểu, thậm chí hiểu nhầm(?). Nhận thấy đây là một thông tin khách quan mang tính cảnh báo trước đối với Việt Nam, Bách Việt xin mạn phép biên soạn lại và đăng tải dưới tiêu đề như trên đây để bạn đọc tiện theo dõi.  

Hãng tư vấn tư nhân có trụ sở tại London BMI (Business Monitor International) vừa đưa ra trong thời gian từ nay tới 2022.(Xem tại đây 'http://store.businessmonitor.com/vietnam-business-forecast-report.html

Cuộc phân loại của BMI lần này được tiến hành đối với  21 nước và vùng lãnh thổ châu Á bao gồm cả Hàn Quốc, Bắc TT, TQ, Đài Loan và HK; các quốc gia ASEAN và Nam Á. Kết quả cho thấy:

Thứ Bảy, ngày 30 tháng 3 năm 2013

Minh bạch không dễ

question[1]Tối qua đáng lẽ tắt TV đi ngủ, lại tình cờ chạm tay vào một nút trên bản điều khiển máy thu hình và nhìn thấy Bộ trưởng Vũ  Đức Đam đang trả lời phỏng vấn báo chí. Ok, ai chứ ông Đam thì nên nán lại xem. Thú thật mình vẫn ngưỡng mộ ông Đam  không chỉ vì ông là một trong số ít ỏi gương mặt bộ trưởng trẻ nhất của đất nước mà còn vì một cảm nhận có từ vài lần tiếp xúc trong quá trình công tác trước đây. Và có lẽ đó là lý khiến mình hay dõi theo nhân vật này (?).

Chủ đề cuộc họp báo đó xem ra khá thiết thực. Và ông Đam một lần nữa lại "ghi điểm" đối với mình. Phải nói là ông ấy đã không phạm một lỗi nào, kể cả về nội dung và tác phong lẫn văn phong.  Tuy nhiên, điều mình sắp nói dưới đây là một việc hoàn toàn  khác. Đó là một cảm nhận  khó diễn đạt; khó theo cả hai nghĩa đen và nghĩa bóng, tức là nhận diện nó là gì , và có dám nói ra không. Dù sao mình cứ thử mạo muội trình bày như dưới đây.

Thứ Ba, ngày 26 tháng 2 năm 2013

Ngẫm từ trường hợp nghị Phước

Dư luận cả nước lại được một dịp nữa bàn tán về ông nghị Hoàng Hữu Phước. Rất nhiều người không chỉ kịch liệt phê phán mà còn tỏ ra vô cùng ngạc nhiên tại sao một nghị sĩ Quốc hội mà dốt nát và nói năng thô lỗ đến vây? Nhiều người đòi phế truất ông nghị này ngay lập tức kẻo ô danh cho Quốc hội nước nhà! Một số nghi ông này có bệnh tâm thần kinh niên trong khi một số người nghi có bàn tay của nước ngoài.... nhằm phá hoại uy tín của Quốc hôi Việt Nam? Vân vân và vân vân ...

Nghị  sĩ Hoàng Hữu Phước và Nghị sĩ Dương Trung Quốc
Có thể  nói hơi quá một chút, dư luận đang tập trung vào trường hợp nghị Phước như một con mồi bị sập bẩy! Và bản thân nghị Phước thì đang vẫy vùng chống trả như kẻ bị oan uổng lắm vậy!   Xem ra ai cũng đều có cái lý của mình. Có lẽ chỉ một vài người đã tỏ ra tế nhị khi gọi hành động của nghị Phước là "vạ miệng". Nhưng tất cả đều coi đó là không thể chấp nhận được, và không ai muốn bênh vực cho ông nghị này cả.

Bản thân người viết bài này cũng không phải là một ngoại lệ, tuy nhiên vẫn phân vân một điều: Phải chăng hiện tượng nghị Phước chẳng qua chỉ là một cục băng nổi trong toàn bộ khối băng chìm của nền nghị trường Việt Nam. Khối băng chìm đó lâu nay luôn tồn tại trong một môi trường lạnh lý tưởng cho đến gần đây đang bắt đầu ấm dần lên khiến một vài cục băng tách ra và nổi lên mặt nước?.  Điều gì sẽ xảy ra trong thời gian tới khi xu hướng nhiệt độ tiếp tục ấm lên? Và do đó, nên chăng hãy nhìn nhận hiện tượng nghị Phước như một điềm báo trước?  

Đối với thế hệ chúng tôi cũng như đại đa số người Việt Nam đang sống hiện nay, thì khái niệm Quốc hội là những cuộc họp "xuân thu nhị kỳ" tại Hôi trường Ba Đình nơi tập trung đông nhất các loại xe con, xe to đưa đón Đại biểu trong khi hàng loạt tuyến đường ách tắc suốt mấy tháng liền. Qua TV người dân được thấy hình ảnh một hội trường rộng lớn chứa đầy đại biểu ngồi xếp hàng thẳng tắp hướng về phía Chủ tịch đoàn. Tất cả im phăng phắc đầy vẽ uy nghiêm. Bản thân cách sắp xếp ghế ngồi và khung cảnh hội trường đã khiến mỗi đại biểu vốn nhỏ bé lại cảm thấy mình bé nhỏ hơn rất nhiều.... Có lẽ đó là một trong những điều kiện khiến cho các phiên họp Quốc hội đều diễn ra trong không khí trật tự, trang nghiêm, cứng nhắc và hoàn toàn giống nhau. Có khác chăng là, trong những năm gần đây, người dân được xem trên vô tuyến truyền một số phiên chất vấn dài lê thê, trong đó chỉ có một số đại biểu đã quen mặt đứng lên đặt câu hỏi... và một số vị bộ trưởng trả lời....Nhiều khi người hỏi cứ hỏi,  người trả lời cứ trả lời theo ý của mình cũng chẳng sao. Tất cả dường như đều đã được chuẩn bị, thậm chí tập dượt trước.
Một phiên họp của Quốc hội (Ảnh minh họa)
Thiết nghĩ, hình thức sắp xếp hội trường và cách tổ chức các phiên họp như thế đã là một sự hạn chế về không gian tương tác giữa các nghị sĩ và giữa nghị sĩ với Chủ tịch đoàn và giữa Quốc hội với người dân. Sự gần gũi (nếu có) là khi qua màn hình vô tuyến người dân có thể nhìn rõ một vài ông bà nghị ngũ gật trong khi người khác không mấy quan tâm.... Thử hỏi, trong hơn 500 nghị sĩ Quốc hội có bao nhiêu vị tham gia chất vấn? Và trong số đó có bao nhiêu vị thật sự có tâm có tầm như mong đợi ? Có lẽ chỉ đủ đếm trong lòng bàn tay, nhưng gần đây một số vị đã "về hưu" giữa lúc có nhiệt tình và bản lĩnh. Liệu con số đó có đủ để tạo nên một không khí tranh luận nghị trường thật sự? Cũng nghe nói mỗi nghị sĩ đều được cử đi học vi tính và trang bị đầy đủ máy móc thiết bị rất hiện đại, nhưng khả năng áp dụng thực sự còn hạn chế.Và như thường lệ, lần kiểm điểm nội bộ nào cũng đều thừa nhận hạn chế....Có lẽ trong bối cảnh đó, ông nghị Phước vốn có thế mạnh về ngoại ngữ và vi tính nên đã bổng dưng trở nên "nổi tiếng" như ta thấy vừa rồi. Và đây cũng chính là yếu điểm khi ông ta đem ra khoe trước đồng nghiệp và công chúng (?). Thực tế cho thấy đại đa số các ông bà nghị khác đều do những hạn chế về năng lực, hoặc do những động cơ cá nhân, không thể hoặc không muốn, tham gia vào các cuộc tranh luận. Số này được dân gian  gọi là "nghị gật"? Câu hỏi ở đây là , điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả hoặc đại đa số các đại biểu Quốc hội đều tham gia tranh luận, tức là không "gật" nữa mà "lắc đầu"? Chắc lúc đó sẽ có nhiều hơn những ông bà "nghị Phước", thậm chí còn trầm trọng hơn thế!. Đó là chưa kể trường hợp những vị lãnh đạo không chỉ nói sai mà điều hành công việc cũng sai gây những hậu quả tại hại gấp nhiều lần so với nói.   
         
Vậy nên chăng, dư luận dù có bức xúc bao nhiêu về trường hợp nghị Phước thì cũng nên dành chút lòng vị tha cho ông ta như một người đã gióng lên một tiếng chuông báo động về tình trạng của nghị trường đất nước lâu nay. Có lẽ trước khi có một nghị trường thực thụ khó mà tránh khỏi những ông "nghị dởm"./.   
 

Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này