Hiển thị các bài đăng có nhãn Chủ quyền lãnh thổ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chủ quyền lãnh thổ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, ngày 06 tháng 6 năm 2015

Bắc Kinh báo hiệu: Không còn hiền lành ở Biển Đông nữa!

Tác giả: Andrew Browne- Wall Street Journal 2/6/2015/ Người dịch: Trần Văn Minh

Ở vào thế giành quyền kiểm soát hồ” của mình, Trung Quốc rút lại sự khoan dung lâu dài dành các nước láng giềng
Đô đốc Trung Quốc, ông Tôn Kiến Quốc nói chuyện với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore vào cuối tuần này. Đô đốc Tôn cho biết, Trung Quốc đã 'kiềm chế hết mức' ở Biển Đông. Ảnh: AFP / Getty Images
Đô đốc Trung Quốc, ông Tôn Kiến Quốc nói chuyện với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore vào cuối tuần này. Đô đốc Tôn cho biết, Trung Quốc đã ‘kiềm chế hết mức’ ở Biển Đông. Ảnh: AFP / Getty Images
SINGAPORE—Cách Trung Quốc xem các tranh chấp chủ quyền đang sôi động ở Biển Đông, rằng sự nhẫn nại của họ đã đi quá xa.
Các nước nhỏ hơn ở quanh vùng biển gồm Việt Nam, Philippines và Malaysia đã thách thức sự kiên nhẫn của Bắc Kinh bằng cách đưa ra các tuyên bố chủ quyền trên nhiều đảo nhỏ, công trình xây dựng trên các đảo này và thăm dò năng lượng ở vùng biển xung quanh. Thật vậy, những hành động này đi trước bất kỳ hành động nào của Trung Quốc. Nhưng sự khoan dung cũng có giới hạn.
Cảm nghĩ về tính chính đáng này đã dẫn Trung Quốc tới dự án xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa, mà hiện nay là tâm điểm của một cuộc khủng hoảng đang gia tăng trong khu vực kinh tế năng động nhất thế giới.
Và điều này đến từ một quan điểm lịch sử xa xưa. Trung Quốc chỉ đơn thuần trả lại những gì họ gọi là “vùng biển gần” của họ cho nhà nước mà họ tin rằng nhà nước này đã hiện hữu hàng ngàn năm – như là một cái “hồ” của Trung Quốc – trước kỷ nguyên chủ nghĩa thực dân xâm chiếm.
Ngày nay, sau khi Trung Quốc bỏ sau lưng cuộc nội chiến, sự xâm lược của Nhật Bản và các xáo trộn khác, và sau bốn thập niên tăng trưởng kinh tế ngoạn mục, cuối cùng họ đã đủ mạnh để đứng thẳng lên dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình.
Còn xa với cách hành xử như một quyền lực xét lại với tham vọng quân sự để thống trị, trong cách tính toán của Trung Quốc để mở rộng các rạn san hô và đá thành các pháo đài tiềm năng là một hành động cứu chuộc với lịch sử.
Một cách ngắn gọn, các hoạt động nạo vét của Trung Quốc không phá vỡ sự cân bằng, Trung Quốc khôi phục lại nó.
Bên ngoài, quan điểm chung này giúp giải thích tuyên bố bất thường của Đô đốc Tôn Kiến Quốc tại hội nghị an ninh quan trọng ở Singapore vào cuối tuần trước.
Khi chính ông nói tới vấn đề nằm trong tâm trí của tất cả mọi người tại Đối thoại Shangri-La – việc Trung Quốc xây dựng 2.000 mẫu đất trên lãnh thổ giữa biển trong vòng 18 tháng qua (tương đương với 1.500 sân bóng bầu dục) – Phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc tuyên bố rằng, nước ông đang thực sự kiềm chế.
Ông nói, “Trung Quốc đã kiềm chế hết sức”.
Không đếm xỉa tới lời kêu gọi của ông Ash Carter, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, nên ngừng công việc mở rộng, là đe dọa ưu thế quân sự của Mỹ và đẩy qua hết một bên quốc gia Á châu này đến quốc gia khác, đến nỗi các lãnh đạo quân đội và an ninh của họ than phiền rằng Trung Quốc đang đe dọa hòa bình, Đô đốc Tôn khẳng định rằng các hoạt động xây dựng là “hợp pháp, chính đáng và hợp lý”.
Đô đốc Tôn đã không tiếp tục giải thích những gì Trung Quốc có thể sẽ làm nếu họ không tự kềm chế.
Tuy nhiên, câu hỏi này là gốc rễ của sự lo lắng hiện nay đang chi phối châu Á. Nếu một công cuộc xây dựng thả cửa với mức độ chưa từng thấy mà gọi là kiềm chế, thì sự không kiềm chế sẽ như thế nào?
Bởi vì các tuyên bố chủ quyền biển của Trung Quốc quá rộng lớn – gần như toàn bộ Biển Đông và tất cả các thực thể biển – nỗi lo sợ trong vùng Đông Nam Á là Trung Quốc đang tạm thời đè nén sự thôi thúc cho việc kiểm soát toàn bộ cái “hồ” của họ và các tuyến đường biển trong đó.
Bằng cách thúc giục Việt Nam ngưng các công trình cải tạo đảo của mình trong khu vực, ông Carter cho thấy rằng ông hiểu rất rõ mối nguy hiểm khi mà sự kiên nhẫn của Trung Quốc có thể chấm dứt.
Nhiều nước trong khu vực tin rằng chỉ là vấn đề thời gian trước khi Trung Quốc tuyên bố kiểm soát bầu trời bằng cách thiết lập một khu vực phòng thủ không gian, giống như điều mà họ đã tuyên bố trên biển Hoa Đông – một hành động mà Đô đốc Tôn không loại trừ. Một hành động như vậy “sẽ phụ thuộc vào vấn đề nếu an ninh hàng hải của chúng tôi bị đe dọa”, ông nói.
Trung Quốc đã khẳng định quyền điều khiển tất cả các hoạt động đánh bắt cá trong khu vựcBiển Đông. Và họ xem toàn bộ khu vực này là một phân khu hành chánh của đảo Hải Nam, một lệnh điều hành của chính phủ [TQ] tiến xa về phía nam, tới tận Indonesia.
Thêm nữa, Trung Quốc lựa chọn những khía cạnh của luật pháp quốc tế hỗ trợ cho trường hợp của họ và phớt lờ những điều không hỗ trợ. Mặc dù họ ký Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, nhưng họ chưa bao giờ nêu ra yêu sách biển dựa theo luật đó.
Tháng trước, hải quân Trung Quốc đã cố gắng xua đuổi một máy bay do thám của Mỹ mang theo một đội thu hình của CNN tiếp cận đá Chữ Thập, một trong những công trình xây dựng lớn nhất. “Hãy đi khỏi!” một nhân viên phát thanh của hải quân Trung Quốc la lớn.
Máy bay P-8 Poseidon đã bị cảnh báo đang tiến tới một “khu vực báo động quân sự” – một dạng không phận không có cơ sở pháp lý. Lời cảnh báo này chỉ ra rằng Trung Quốc hẳn có ý định sử dụng công trình xây cất để tăng cường kiểm soát bầu trời trên Biển Đông và các tuyến đường biển, tuyến đường chứa hơn một nửa thương mại thế giới.
Thựa ra, sự nhập nhằng là một chiến thuật có chủ ý của Trung Quốc. Một đường chín đoạn xuất hiện trên bản đồ của Trung Quốc xung quanh Biển Đông, cho thấy quyền sở hữu của Trung Quốc không bao gồm bất kỳ tọa độ nào. Cũng như Trung Quốc chưa từng giải thích về cơ sở pháp lý của bản đồ.
Dù vậy, không phải ai cũng tin rằng Trung Quốc có ý định áp đặt các tuyên bố chủ quyền của họ tới cùng.
Viết trên báo Straits Times của Singapore tuần này, ông Vương Canh Vũ (Wang Gungwu), một giáo sư tại Đại học Quốc gia Singapore và là một học giả hàng đầu về triều đình Trung Quốc, biện giải rằng Trung Quốc chưa bao giờ mong muốn trở thành một đế chế hàng hải. Các chuyến hải hành 600 năm trước của thái giám Đô đốc Trịnh Hòa là một điều khác thường.
Không giống như Anh và Mỹ, là những nước xây dựng vị thế siêu cường thông qua sức mạnh hải quân, Trung Quốc có truyền thống tìm kiếm quyền lực thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ.
Ông Vương viết: “Vấn đề chính của Trung Quốc là làm thế nào để thuyết phục các nước láng giềng rằng họ không có ý định chuyển từ quả quyết tới áp chế”.
Trong lúc này, Mỹ và các đồng minh Á châu chỉ còn phỏng đoán sự tự kiềm chế của Trung Quốc sẽ kéo dài bao lâu. Các cuộc tranh luận tại Washington về việc liệu sự kiềm chế của Trung Quốc cần được khuyến khích thông qua ngoại giao và kêu gọi tuân thủ các nguyên tắc pháp lý và chuẩn mực quốc tế, hoặc áp đặt bằng vũ lực. Dù bằng cách nào đi nữa, sự kiềm chế không thể xem như mặc định.

Thứ Hai, ngày 01 tháng 6 năm 2015

Các thực tế lịch sử và sự bịa đặt ở Biển Đông


The Observer 01/06/2015




Nguồn: Bill Hayton, “Fact, Fiction and the South China Sea”, Asia Sentinel, 25/05/2015.

Biên dịch: Phan Văn Song

Chỉ trong vài tuần nữa, các thẩm phán quốc tế sẽ bắt đầu xem xét tính hợp pháp của yêu sách ‘đường chữ U’ của Trung Quốc ở Biển Đông. Nơi sự việc diễn ra sẽ là Toà Trọng Tài Thường Trực tại The Hague và bước đầu tiên của tòa – trong thời gian nghị án vào tháng 7 – sẽ là xét xem liệu ngay cả toà [có quyền] xem xét vụ kiện này hay không.

Điều Trung Quốc hi vọng lớn nhất là các thẩm phán sẽ phán quyết chính họ không có thẩm quyền bởi vì nếu không, và vụ kiện của Philippines tiến tới, rất có khả năng Trung Quốc sẽ bị bẽ mặt rất lớn.

Philippines muốn Tòa phán quyết rằng, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), Trung Quốc chỉ có thể yêu sách chủ quyền và quyền đối với tài nguyên cách lãnh thổ đất liền một khoảng cách nhất định trong biển này. Nếu tòa đồng ý thì điều đó sẽ có tác dụng thu hẹp ‘đường chữ U’ to rộng đó thành một vài vòng tròn có đường kính không quá 24 hải lý (khoảng 50km).

Trung Quốc không chính thức tham gia vào vụ kiện, nhưng họ đã đưa ra các tranh luận gián tiếp, đặc biệt là qua ‘văn bản về lập trường’ mà họ công bố cuối tháng 12. Văn bản này lập luận rằng khi chưa có phán quyết của một tòa án khác cho tất cả các yêu sách lãnh thổ cạnh tranh đối với các đảo, đá và rạn san hô khác nhau thì tòa này không nên xét xử vụ kiện của Philippines. Đây là vấn đề mà các thẩm phán sẽ phải xem xét trước tiên.

Chiến lược của Trung Quốc trong ‘cuộc chiến pháp lý’ trên Biển Đông là tung ra các lập luận lịch sử để đánh tạt đi các lập luận dựa trên UNCLOS. Trung Quốc ngày càng có vẻ coi UNCLOS không phải là một phương tiện trung tính trong việc giải quyết các tranh chấp mà là một vũ khí phe phái do các nuớc khác nắm lấy để từ chối các quyền tự nhiên của Trung Quốc.

Nhưng có một vấn đề lớn đối với Trung Quốc trong việc sử dụng lập luận lịch sử. Hầu như họ không có bất kỳ bằng chứng nào.

Đây không phải là ấn tượng mà người đọc bình thường thu được khi đọc hầu hết các bài báo hoặc các báo cáo của các viện nghiên cứu chính sách (think-tank) viết về tranh chấp Biển Đông trong những năm gần đây. Đó là vì hầu như tất cả các bài báo và báo cáo này đều có căn cứ lịch sử dưa trên một số lượng rất nhỏ các bài viết và sách. Đáng lo ngại là việc kiểm tra chi tiết những công trình này gợi ra rằng họ sử dụng các căn cứ không đáng tin cậy để từ đó viết ra những chuyện lịch sử [đuợc cho là] đáng tin cậy.

Đây là một trở ngại đáng kể trong việc giải quyết tranh chấp vì việc Trung Quốc đọc nhầm các bằng chứng lịch sử là yếu tố gây bất ổn lớn nhất trong đợt căng thẳng hiện nay. Sau nhiều thập niên giáo dục sai, người dân và lãnh đạo Trung Quốc dường như tin rằng Trung Quốc là chủ sở hữu hợp lẽ tất cả các thực thể địa lý trong biển này- và có thể tất cả các vùng biển ở giữa. Quan điểm này đơn giản là không được các bằng chứng từ thế kỷ 20 hậu thuẫn.

Ai kiểm soát quá khứ sẽ kiểm soát tương lai

Vấn đề đối với khu vực này là việc giáo dục sai không chỉ giới hạn ở Trung Quốc. Bằng chứng không đáng tin cậy che phủ dòng quan điểm quốc tế về tranh chấp Biển Đông. Nó đang bẻ lệch các đánh giá về tranh chấp này ở cấp cao trong chính phủ – cả ở Đông Nam Á lẫn ở Hoa Kỳ. Tôi sẽ sử dụng ba tài liệu công bố gần đây để minh họa cho quan điểm của mình: hai bài ‘Bình Luận’ năm 2014 của Trường Nghiên Cứu Quốc Tế Rajaratnam ở Singapore do học giả Trung Quốc Li Dexia (Lý Đức Hà) và một người Singapore tên Tan Keng Ta viết[1], một bài thuyết trình năm 2015 của cựu Phó Đại sứ Mỹ tạiTrung Quốc Charles Freeman tại Đại học Brown[2] và một bài báo năm 2014 của Trung Tâm Phân Tích Hải Quân có trụ sở tại Hoa Kỳ.[3]

Điểm nổi bật về những công trình gần đây này – và chúng chỉ là các ví dụ của một lượng văn liệu lớn hơn nhiều – là chúng tin vào các tài liệu lịch sử công bố nhiều năm trước đây: một số lượng nhỏ các bài viết được công bố trong thập niên 1970, đáng chú ý là tài liệu của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park;[4] cuốn sách Contest for the South China Sea của Marwyn Samuels năm 1982;[5] cuốn sách China’s Ocean Frontier[6] của Greg Austin năm 1998 và hai bài báo của Jianmeng Shen [申建明 (Thân Kiến Minh)] công bố năm 1997[7] và 2002.[8]

Các tài liệu này đã tới chỗ thành ‘kiến thức phổ thông’ (conventional wisdom) về các tranh chấp [ở Biển Đông]. Google Scholar tính ra rằng tài liệu của Chiu và Park được 73 công trình khác trích dẫn, và sách của Samuels là 143. Những công trình có trích dẫn các tác giả này gồm một của Brian Murphy năm 1994[9] và những công trình của Jianming Shen năm 1997 và 2002 – rồi tới phiên chúng lại được trích dẫn tương ứng bởi 34 và 35 công trình khác và bởi Chi-kin Lo mà cuốn sách của ông lại được 111 công trình khác nữa trích dẫn.[10] Đối với hầu hết các diễn giải lịch sử, Lo dựa vào Samuels một cách rõ rệt, thực sự ca ngợi ông vì “xử lý tỉ mỉ các dữ liệu lịch sử” (p.16). Đô Đốc (về hưu) Michael McDevitt khi viết lời mở đầu cho bài viết của CNA, lưu ý rằng quyển Contest for the South China “ vẫn đứng rất vững cho tới khoảng 40 năm nữa.”

Những công trình này là những nỗ lực đầu tiên giảng giải lịch sử của các tranh chấp cho người xem nói Tiếng Anh. Chúng có một số đặc điểm chung:
Chúng được viết bởi các chuyên gia về luật quốc tế hay khoa học chính trị chứ không phải là nhà sử học về biển của khu vực này.
Chúng thường thiếu các tham khảo từ nguồn tài liệu gốc (primary source material)
Chúng có xu hướng dựa vào các nguồn trên báo chí Trung Quốc mà các nguồn này lại không đưa ra nguồn tham khảo nào từ các bằng chứng ban đầu hoặc từ các công trình có tham khảo các nguồn này
Chúng có xu hướng trích dẫn các bài báo nhiều năm sau đó như là bằng chứng có thật
Chúng thường thiếu thông tin bối cảnh lịch sử
Chúng được viết bởi tác giả có các quan hệ mạnh mẽ với Trung Quốc

Các công trình ban đầu về tranh chấp

Việc viết về các tranh chấp ở Biển Đông bằng tiếng Anh nổi lên như hậu quả trực tiếp của ‘Trận đánh ở quần đảo Hoàng Sa’ vào tháng 1 năm 1974, khi quân đội Trung Quốc đuổi quân đội Việt Nam Cộng Hòa (‘Nam Việt Nam’) ra khỏi nửa phía Tây của quần đảo này.

Các phân tích đầu tiên mang tính báo chí, trong đó có một bài của Cheng Huan, lúc đó là một sinh viên luật người Malaysia gốc Hoa ở London mà bây giờ là một khuôn mặt pháp lý cao cấp tại Hong Kong, trong ấn bản tháng sau đó của Far Eastern Economic Review (Tạp Chí Kinh Tế Viễn Đông).[11] Trong bài đó, ông phát biểu rằng, “yêu sách lịch sử của Trung Quốc [đối với quần đảo Hoàng Sa] rất vững chải về mặt tài liệu ghi chép (well documented) và đi ngược về quá khứ xa xưa rất nhiều năm, rằng sẽ gần như bất khả để bất kỳ nước nào khác đưa ra một phản yêu sách có ý nghĩa.” Lời thẩm định của một sinh viên còn non choẹt đã được chuẩn nhận trích dẫn trong cuốn sách ‘China’s Policy Towards Territorial Dispute’ của Chi-Kin Lo xuất bản năm 1989.[12]

Các công trình có tính học thuật đầu tiên xuất hiện năm sau đó. Chúng gồm một bài viết của Tao Cheng cho Tạp Chí Luật Quốc Tế Texas[13] và một bài khác của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park cho Ocean Development & International Law.[14] Năm sau, Viện Nghiên Cứu Châu Á tại Hamburg xuất bản một chuyên khảo của học giả Đức Dieter Heinzig có tựa là ‘Disputed islands in the South China Sea’ (Các đảo tranh chấp ở Biển Đông).[15] Đây là những bài viết mở đuờng nhưng nội dung – và do đó phân tích của chúng- còn xa mới có tính trung lập.

Bài của Cheng chủ yếu dựa vào nguồn của Trung Quốc với các thông tin bổ sung từ báo chí Mĩ. Các nguồn chính của Trung Quốc là các tạp chí thương mại hồi thập niên 1930, đáng chú ý là các số của tạp chí Wai Jiao Ping Lun [外交评论 (Ngoại Giao Bình Luận)] ở Thượng Hải năm 1933 và năm 1934 và Xin Ya Xiya yue kan [新亚细亚月刊 (Tân Á Tế Á Nguyệt San: Nguyệt san Châu Á mới)] năm 1935. Các nguồn này được bổ sung bằng các tài liệu từ tạp chí tin tức hàng thángMing Pao [明报 (Minh Báo)] ở Hong Kong năm 1973 và năm 1974. Các báo khác được trích dẫn bao gồm Kuo Wen Chou Pao [国文周报 (Quốc Văn Chu Báo: Tuần Báo Quốc Văn)], xuất bản tại Thượng Hải từ năm 1924 đến 1937, Renmin Ribao [Nhân Dân Nhật Báo] và New York Times. Cheng không tham khảo bất kỳ nguồn nào của Pháp, Việt Nam hoặc Philippines, ngoại trừ một bài báo từ La Geographie (Địa Lí) năm 1933 đã được dịch và in lại trong Wai Jiao Ping Lun.

Bài báo của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park cũng dựa trên các nguồn tương tự. Trong những phần cốt lõi, bài viết trích dẫn bằng chứng dựa trên các bài báo được xuất bản vào năm 1933 trong Wai Jiao Ping Lun[16] và Wai Jiao Yue Bao [外交月报 (Ngoại Giao Nguyệt Báo)][17], vàFan-chih Yueh-k’an [方志月刊 (Phuơng Chí Nguyệt San)] năm 1934[18] cũng như Kuo-wen Chou Pao (Quốc Văn Chu Báo) năm 1933 và Wai-Chiao-pu kung-pao [外教部公宝(Ngoại Giao Bộ Công Báo: Công báo Bộ Ngoại Giao)] của chính phủ Trung Quốc.[19] Nó bổ sung thông tin này với các tài liệu thu thập được từ quyển Nan-hai chu-tao ti-li chih lūeh [南海诸岛地理志略 (Nam Hải chư đảo địa lý chí lược)] của Cheng Tzu-Yueh [郑资约 (Trịnh Tư Ước)] xuất bản năm 1948 ở Thượng Hải,[20] và các tuyên bố của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) từ năm 1956[21] đến 1974.[22]

Chiu và Park có sử dụng một số tài liệu tham khảo của Việt Nam, đặc biệt là 8 thông cáo báo chí hay các bảng kê sự kiện do Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Washington đưa ra. Họ cũng tham khảo một số “tài liệu chưa được công bố thuộc sở hữu của hai tác giả.” Tuy nhiên, phần lớn nguồn của họ là từ báo chí Trung Quốc.

Viết một năm sau đó, Dieter Heinzig dựa vào, đặc biệt là các ấn bản của hai tạp chí Hong KongCh’i-shih nien-tai [七十年代 (Thất thập niên đại)] và Ming Pao [明报 (Minh Báo)][23] xuất bản lần lượt vào tháng 3 và tháng 5 năm 1974.

Điều quan trọng là tất cả những bài viết nền tảng này đã được sử dụng làm tài liệu tham khảo cơ bản cho các bài báo Trung Quốc xuất hiện trên truyền thông vào những thời điểm khi thảo luận về Biển Đông đã bị chính trị hóa cao độ. Năm 1933 là năm mà Pháp chính thức sáp nhập các thực thể địa lý thuộc quần đảo Trường Sa – kích động sự giận dữ lan rộng ở Trung Quốc, 1956 là năm mà doanh nhân Tomas Cloma của Philippines tuyên bố hầu hết quần đảo Trường Sa là vùng đất tự do “Freedomland” của chính mình – kích động các phản yêu sách của Trung Hoa Dân Quốc, Trung Quốc và Việt Nam Cộng Hòa; và 1974 là năm có trận đánh Hoàng Sa.

Các bài báo được công bố trong ba thời kỳ này không thể được xem là các nguồn trung lập và vô tư về bằng chứng thực tế mà cần phải được xem là những tài liệu phe phái ủng hộ các quan điểm quốc gia cụ thể. Điều này không có ý nói rằng các tài liệu đó sẽ tự động không chính xác mà cần phải thận trọng kiểm chứng những điều chúng khẳng định với các nguồn tài liệu gốc. Đây không phải là điều mà các tác giả đã làm.

Khuôn mẫu do Cheng, Chiu và Park và Heinzig thiết lập sau đó đã được lặp lại trong cuốn sáchContest for the South China Sea của Marwyn Samuels.[24] Chính Samuels tự thừa nhận sự thiên vị Trung Quốc trong các nguồn của ông trong Lời Mở Đầu của cuốn sách, khi ông nói “đây không phải là một nghiên cứu chủ yếu về lịch sử trên biển, chính sách đại dương hoặc lợi ích của Việt Nam hay Philippines ở Biển Đông. Thay vào đó, ngay cả khi với các yêu sách và phản yêu sách khác nhau được bàn luận khá dài, mối quan tâm cuối cùng ở đây là về tính chất thay đổi trong chính sách đại dương của Trung Quốc.” Kết hợp các vấn đề lại, Samuels thừa nhận rằng nghiên cứu Châu Á của ông chủ yếu trong kho lưu trữ của Đài Loan. Tuy nhiên, các hồ sơ chính yếu liên quan đến hành động của Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông trong đầu thế kỷ 20 chỉ được giải mật năm 2008/9, sau khi công trình của ông được công bố khá lâu.[25]

Có một sự bùng nổ về việc viết lịch sử vào cuối thập niên 1990. Nhà địa lý Daniel Dzurek, cựu nhân viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ sau trở thành nhà tư vấn trong lĩnh vực dầu khí đã viết một bài báo cho Đơn vị Nghiên cứu các Ranh giới Quốc tế của Đại học Durham vào năm 1996 và cuốn sách của một nhà phân tích Úc Greg Austin xuất bản vào năm 1998. Phần lịch sử của Austin tham khảo sách của Samuels, các bài viết của Chiu và Park, tài liệu có tên ‘Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa’ do Bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố tháng 1 năm 1980[26] và một bài viết của Lin Jinzhi (Lâm Kim Chi) trên tờ Nhân Dân.[27] Cuốn sách của Dzurek cũng tương tự.

Người đóng góp quan trọng kế tiếp cho cách tường thuật này là một giáo sư luật Mỹ gốc Hoa, Jianming Shen thuộc Trường Luật Đại học St. John ở New York. Năm 1997, ông công bố một bài viết then chốt trong Hastings International and Comparative Law Review. Giống như Tạp Chí Luật quốc tế Texas, Tạp Chí này là một ấn phẩm do sinh viên biên tập. Hầu như không cần phải nói rằng ban biên tập gồm các sinh viên khó có thể là cơ quan tốt nhất để giám sát các công trình về lịch sử biển Châu Á. Tiếp sau bài viết này, Shen có một bài thứ hai trong một tạp chí có uy tín hơn, The Chinese Journal of International Law – mặc dù trong nhiều mục nó chỉ đơn giản là tham khảo bài viết thứ nhất.

Hai bài viết của Shen đặc biệt có ảnh hưởng – chẳng hạn bài của CNA 2014 dẫn ít nhất là 170 lần hai bài này. Tuy nhiên, khi kiểm tra lại nguồn thì thấy rõ hai bài này cũng đáng nghi như các bài có trước. Các mục về lịch sử nhằm cung cấp các bằng chứng cho bài năm 1997 của ông dựa phần lớn vào hai nguồn. Một là một cuốn sách của Duanmu Zheng [端木正 (Đoan Mộc Chính)] có tên Guoji Fa [Quốc Tế Pháp (Luật quốc tế)] do nhà xuất bản Đại Học Bắc Kinh xuất bản năm 1989 (đuợc tham chiếu ít nhất 18 lần).[28] Năm sau Duanmu chính thức trở thành quan chức pháp luật đứng thứ hai ở Trung Quốc – Phó Chánh Án Toà án Nhân dân Tối cao của Trung Quốc – và sau đó là một trong những người dự thảo Luật Cơ bản của Hong Kong.[29] Nói cách khác, ông là một quan chức cấp cao của nhà nước Trung Quốc. Nguồn sử liệu chính khác của Shen là một tập hợp các bài từ một hội nghị chuyên đề về các đảo ở Biển Đông do Viện Chiến lược Phát triển Biển, một bộ phận của Cục Hải Dương Quốc Gia Trung Quốc, tổ chức năm 1992 (đuợc tham chiếu dẫn ít nhất 11 lần). Có vẻ còn hơn là trớ trêu rằng tài liệu do Cục Quản Lý Hải dương Quốc Gia làm ra và tiếp đó được các cơ quan pháp lý của Trung Quốc xào nấu thông qua các tác phẩm của giáo sư Shen và của Trung Tâm Phân Tích Hải Quân lúc đó mà bây giờ lại trở thành một thành phần trong hiểu biết của Lầu Năm Góc về lịch sử Biển Đông.

Không ai trong số các tác giả được nói tới cho đến giờ là chuyên gia về lịch sử biển ở Biển Đông mà là các nhà khoa học chính trị (Cheng và Samuels), luật sư (Chiu và Park và Shen) hoặc chuyên gia quan hệ quốc tế (Heinzig và Austin). Như một quy luật, các công trình của họ không kiểm tra tính toàn vẹn của các lời văn mà họ trích dẫn, và họ cũng không bàn luận về bối cảnh mà chúng được tạo ra. Đặc biệt Cheng cùng với Chiu và Park lại đưa vào các khái niệm lỗi thời – chẳng hạn như ‘đất nước’ (country) để mô tả quan hệ tiền hiện đại giữa các thực thể chính trị xung quanh Biển Đông – cho những giai đoạn mà các quan hệ chính trị rất khác biệt với các quan hệ đang có hiện nay.

Cũng đáng chú ý là Cheng, Chiu và Shen đều là người gốc Hoa. Cheng và Shen đều tốt nghiệp LLB (Cử Nhân Luật) tại Đại học Bắc Kinh. Chiu tốt nghiệp Đại học Quốc gia Đài Loan. Dù điều này tất nhiên không tự động làm cho họ thành thiên vị, nhưng sẽ hợp lý để cho rằng họ quen thuộc với các tài liệu của Trung Quốc và các quan điểm của Trung Quốc nhiều hơn. Cả Samuels lẫn Heinzig đều là những học giả về Trung Quốc.

Bằng chứng có lổ hổng

Hầu như không đáng ngạc nhiên rằng những tài liệu bằng tiếng Anh đầu tiên về tranh chấp [Biển Đông], được viết như thể chúng do các tác giả Trung Quốc viết và dựa trên các nguồn của Trung Quốc, ủng hộ lập luận của Trung Quốc. Cheng đánh giá (p. 277) rằng “có lẽ an toàn để nói rằng vị thế của Trung Quốc trong tranh chấp các đảo ở Biển Đông là một ‘yêu sách vượt trội hơn cả’.” Chiu và Park (p.20) kết luận rằng “Trung Quốc có yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Spratlies [nguyên văn]) mạnh mẽ hơn Việt Nam.” Có thể thấy rõ quan điểm của Shen qua tựa hai bài báo của ông ta: ‘Các quy tắc của luật quốc tế và bằng chứng lịch sử hậu thuẫn quyền sở hữu của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông’ và ‘Chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông.’

Những lời phán này vẫn còn có ảnh hưởng tới ngày nay: chẳng hạn chúng đã được các bài viết của Li và Tan năm 2014 trích dẫn. Tuy nhiên, khi xem xét cặn kẽ hơn các bằng chứng mà họ dựa vào thì sẽ thấy chúng sai lầm trầm trọng. Những bài viết vào năm 1933, 1956 và 1974 không nên được coi là bằng chứng trung lập mà là các bài đọc có tính phe phái về lịch sử tranh chấp.

Bài viết này không có chỗ để nêu lên tất cả những khẳng định mà các tác giả đã đưa ra về các sự kiện trước thế kỷ 19. Tóm lại, các điều Cheng, Chiu và Park, Samuels và Shen đưa ra đều có cùng giả định chung: đó là Trung Quốc luôn luôn chiếm ưu thế hải quân, thương mại và khả năng đánh cá ở Biển Đông. Chẳng hạn như Cheng đã nêu như thế này, “Nó là một phần quan trọng của tuyến đường biển từ Châu Âu đến Phương Đông kể từ thế kỷ thứ 16, là nơi trú ẩn cho ngư dân Đảo Hải Nam, và là cửa ngõ cho các thương gia Trung Quốc từ miền Nam Trung Quốc đến Đông Nam Á kể thời xa xưa” (p.266).

Lịch sử dựa vào thực tiễn Biển Đông nhiều hơn gợi cho thấy tình hình phức tạp hơn nhiều. Các công trình của các nhà sử học Leonard Blussé, Derek Heng, Pierre-Yves Manguin, Roderich Ptak, Angela Schottenhammer, Li Tana, Nicholas Tarling và Geoff Wade đã cho thấy việc sử dụng biển trong thời tiền hiện đại đa phương hơn rất nhiều. Tàu thuyền và các thương nhân Trung Quốc hầu như không có vai trò trong giao thương đường biển cho mãi đến thế kỷ thứ 10 và thậm chí sau đó cũng chưa bao giờ chiếm ưu thế mà sử dụng biển chung với người Malaysia, Ấn Độ, Ả Rập và Châu Âu. Nghiên cứu của François-Xavier Bonnet,[30] Ulises Granados[31] và Stein Tønnesson[32] cho thấy mô thức tương tự đã kéo dài tới thế kỷ 20 như thế nào.

Nhiều tài liệu tiết lộ hồi đầu thế kỷ 20 cho thấy rằng nhà nước Trung Quốc gặp khó khăn rất lớn trong việc kiểm soát ngay cả bờ biển của chính mình, và hoàn toàn không có khả năng triển khai thẩm quyền tới các đảo cách xa hàng trăm cây số ngoài khơi. Ví dụ, hai bài báo trên The Times ở London tháng 1 năm 1908 mô tả sự bất lực của chính quyền Trung Quốc trong việc kiểm soát ‘cướp biển’ ở sông Tây Giang – trong nội địa ở Quảng Châu.[33] Một bài báo trên tờ The Examiner của Australia năm 1909 cho chúng ta biết rằng người nước ngoài (“hai người Đức, một người Nhật, và một số người Malaysia”) đã bắt đầu các hoạt động khai mỏ trên đảo Hải Nam mà không có cơ quan chức năng nào phát hiện cho đến mãi sau này.[34]

Điều mà các tài liệu này bộc lộ là một Biển Đông cho đến giữa thế kỷ 20 cơ bản vẫn không ai cai quản trừ các can thiệp khi cần của các cường quốc nước ngoài để chống cướp biển. Chỉ trong năm 1909, sau vụ tranh cãi xung quanh việc nhà khai thác phân chim Nhật Nishizawa Yoshiji chiếm đảo Pratas [Trung Quốc gọi là Đông Sa] thì nhà chức trách Trung Quốc mới trở nên quan tâm đến các đảo ngoài khơi.[35]

Việc phản đối các cuộc khảo sát của Đức

Tuy nhiên, Samuels (p. 52) cho rằng có thể xem Trung Quốc đã ngầm yêu sách quần đảo Trường Sa từ năm 1883 khi (theo trình bày của ông) chính phủ nhà Thanh chính thức phản đối đoàn khảo sát (có nhà nước bảo trợ) của Đức tới quần đảo Trường Sa. Khẳng định này lấy nguồn từ số tháng 5 năm 1974 của tạp chí tháng Ming Pao của Hong Kong mà không có bằng chứng bổ trợ nào khác. Chiu và Park (trong chú thích 47) quy nó về một bài báo trong Wai Jiao Yue Bao năm 1933, tức viết ra sau sự kiện đang nghi vấn này những 50 năm,[36] Heinzig cũng trích dẫn cùng số Ming Pao mà Samuels dựa vào để nói rằng đoàn khảo sát Đức năm 1883 thực sự đã rút đi sau khi có phản đối của Trung Quốc.

Điều khẳng định này có vẻ rất khó xảy ra bởi vì các nhà khảo sát Đức đã lập bản đồ quần đảo Hoàng Sa (không phải Trường Sa) từ năm 1881 đến năm 1883, hoàn tất công việc và sau đó đã xuất bản một hải đồ. Ấn bản tiếng Pháp của hải đồ đó được xuất bản năm 1885.[37]

Công ước Pháp-Thanh [Sino-Tonkin] 1887

Samuels lập luận rằng công ước Pháp – Thanh 1887 do chính phủ Pháp đàm phán, trên danh nghĩa là thay mặt cho cho Bắc Kỳ [Tonkin], cho ra một thỏa thuận quốc tế phân các đảo này [Hoàng Sa và Trường Sa] cho Trung Quốc (p. 52). Điều 3 của Công ước quả thực có phân các đảo phía Đông kinh tuyến Paris 105° 43′ cho Trung Quốc. Nhưng Samuels và các tác giả khác không để ý rằng Công Ước này áp dụng cho Bắc Bộ – khu vực phía Bắc của vùng đất bây giờ là Việt Nam và do đó chỉ có thể liên quan đến các đảo trong Vịnh Bắc Bộ. Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm lệch xa về phía Nam trong khu vực mà lúc đó là lãnh địa của An Nam (Trung Kỳ) và Nam Kì không thuộc phạm vi của Công Ước.

Bí ẩn của chuyến đi năm 1902

Ngoài ra còn xuất hiện một số nhầm lẫn về thời gian của chuyến đi đầu tiên của các quan chức Trung Quốc tới quần đảo Hoàng Sa. Samuels (p. 53), tin vào của bài viết trên Ming Pao năm 1974, cho chuyến đi đó là vào năm 1902 với chuyến đi thứ hai vào năm 1908. Austin và Dzurek viết theo Samuels trong sự việc này. Li và Tan (2014) cũng khẳng định là năm 1902, cùng với một chuyến đi riêng biệt khác vào năm 1907. Cheng cho nó là vào năm 1907, dựa trên một số tài liệu tham khảo năm 1933[38] như Chiu và Park đã làm, hai tác giả này dẫn một ấn bản năm 1933 của Kuo-wen chou -pao.[39] Tuy nhiên, trái ngược với các tường thuật này, được viết sau cái cho là các sự kiện mà họ định mô tả tới 26 và 72 năm, việc khảo sát báo chí cùng thời đó cho thấy khá rõ rằng các chuyến đi diễn ra vào năm 1909.

Có lý do chính đáng cho sự nhầm lẫn về chuyến đi năm 1902 này. Vào tháng 6 năm 1937, trưởng khu hành chính số 9 của Trung Quốc, Huang Qiang, đã được phái đến quần đảo Hoàng Sa thực hiện một nhiệm vụ bí mật – một phần là để kiểm tra xem có hoạt động của người Nhật trên các đảo hay không.

Nhưng ông cũng có một nhiệm vụ khác – mà một phụ lục bí mật kèm báo cáo của ông cho thấy rõ. Một đoạn trích của phụ lục này đã được Ủy ban Địa Danh Tỉnh Quảng Đông in lại vào năm 1987.[40] Tàu của ông chở theo 30 cột mốc (marker) bằng đá – một số ghi năm 1902, một số ghi năm 1912 và một số khác ghi năm 1921. Trên Cồn Bắc, họ chôn 2 cột ghi năm 1902 và 4 cột ghi năm 1912; trên Đảo Linh Côn (Lincoln), toán công tác chôn 1 cột ghi năm 1902, 1 cột ghi năm 1912 và 1 cột ghi năm 1921 và trên đảo Phú Lâm, 2 cột ghi năm 1921. Cuối cùng, trên Đảo Đá (Rocky), họ chôn 1 cột mốc duy nhất ghi năm 1912.

Các cột mốc này bị quên lãng cho mãi đến năm 1974 khi mà, sau trận đánh Hoàng Sa, chúng được tìm thấy và ‘khám phá’ này được làm ầm ĩ trên báo chí Hồng Kông – như Ming Pao. Chuyến đi năm 1902 không hề tồn tại này sau đó lại đi vào sử sách. Chỉ tới bây giờ nó mới bị nhà địa lý học người Pháp làm việc ở Manila Francois-Xavier Bonnet vạch trần.[41]

Tên các đảo

Trong bài viết năm 1997, Shen khẳng định Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ‘thẩm tra lại tên các đảo ở biển Nam Trung Quốc’ năm 1932. Trên thực tế ủy ban chính phủ đó chỉ đơn giản dịch hay phiên âm tên Tiếng Anh hoặc tên quốc tế hiện có. Kết quả là một số trong những cái tên tiếng Trung tiếp tục vinh danh các nhà khảo sát Anh vốn lập bản đồ các thực thể địa lý này lần đầu tiên. Trong quần đảo Hoàng Sa có Ling yang Jiao [Linh Dương Tiêu] – dịch từ Antelope Reef (Đá Hải Sâm) – vốn được đặt tên theo tàu khảo sát Antelope của Anh. Jin Yin Dao [Kim Ngân Đảo] – Money Island (Đảo Quang Ảnh) – không phải được đặt tên theo tiền và bạc – mà theo tên tổng giám sát William Taylor Money của Bombay Marine – đoàn tàu của Công ti Đông Ấn.

Phản đối ngoại giao năm 1933?

Một lập luận vốn là chìa khóa cho yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa là việc khẳng định thường được lặp đi lặp lại rằng Trung Hoa Dân Quốc đã chính thức phản đối Chính Phủ Pháp sau khi nước này chính thức sáp nhập một số thể địa lý trong quần đảo Trường Sa vào ngày 26 tháng 7 năm 1933. Điều chắc chắn đúng là sự sáp nhập gây kinh ngạc trong chính phủ và nỗi tức giận dân tộc chủ nghĩa trong công chúng. Tuy nhiên, có chăng một phản đối chinh thức đã được đưa ra?

Tao Cheng, trong bài báo năm 1975, dẫn một bài viết trong Xin Ya Ya Xi Yue Kan [Hsin-ya-hsi-ya Yueh kan (Tân Á Tế Á Nguyệt San)], ra hai năm sau đó, năm 1935.[42] Chiu và Park nêu trong một chú thích rằng “có bằng chứng rằng Trung Quốc cũng phản đối.” Họ tham khảo bài viết của Cho Min trong Wai-Chiao Yueh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo],[43] và một cuốn sách Nan-hai-chu tao ti-li chih- lūeh [Nam Hải chư đảo địa lí chí lược] năm 1948 của Cheng Tzu-Yueh.[44]

Tuy nhiên, họ thừa nhận rằng “Ngày Trung Quốc đưa ra phản đối không có nêu trong cuốn sách của Cheng, và cũng không được nói tới trong ‘Bản ghi nhớ về bốn quần đảo lớn của nước Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông’ do Bộ Ngoại Giao Trung Hoa Dân Quốc công bố vào tháng 2 năm 1974. Xem Lien-ho-pao [联合报 (Liên Hiệp Báo)], ấn bản nước ngoài, 25 tháng 2 năm 1974, p. 3.”

Điều khẳng định này xuất hiện trong bài thuyết trình của Đại Sứ Freeman và trong bài của CNA – bài này trích dẫn Shen. Trong bài báo năm 1997, Shen trích dẫn hai nguồn: Cheng, và Chiu và Park – nhưng như chúng ta đã thấy – các tác giả này không nêu ra bất kỳ tài liệu tham khảo nào cho khẳng định của mình. Trong bài báo năm 2002, Shen dẫn các bài viết của hội nghị chuyên đề của Cục Hải Dương Quốc Gia.[45] Những bài viết này không tìm thấy bên ngoài Trung Quốc, nhưng có bằng chứng tốt rằng tất cả các công trình này đều chỉ đơn giản là sai.

Francois-Xavier Bonnet đã tìm được hồ sơ của Mỹ cho thấy rằng ngay sau công bố của Pháp chính phủ Trung Quốc đã yêu cầu viên lãnh sự ở Manila, ông Kuan-ling Kwong đến hỏi chính quyền thực dân Mỹ về bản đồ có vẽ vị trí của các đảo đó. Chỉ sau đó chính phủ ở Nam Kinh mới hiểu được rằng những đảo này không thuộc quần đảo Hoàng Sa và sau đó đã quyết định không đưa ra bất kỳ phản đối chính thức nào.[46]

Theo Bonnet, nguyên do của việc này có thể thấy rõ từ biên bản của cuộc họp của Hội đồng quân sự Trung Hoa Dân Quốc vào ngày 1 tháng 9 năm 1933, “Tất cả các nhà địa lý chuyên nghiệp của chúng ta nói rằng Đảo Tri Tôn [thuộc Hoàng Sa] là đảo cực nam của lãnh thổ của chúng ta.”[47]Trung Hoa Dân Quốc quyết định rằng họ không có yêu sách trong quần đảo Trường Sa vào thời điểm đó và do đó không có gì để phản đối.

Nghiên cứu của Chris Chung, một nghiên cứu sinh người Canada, đã phát hiện ra rằng cho tới năm 1946, các hồ sơ của Trung Hoa Dân Quốc đã dẫn chứng việc Trung Quốc phản đối chính thức vào năm 1933 như thể nó là có thật. Điều này sau đó đã trở thành cách biện minh của Trung Quốc cho việc ‘đòi lại’ những đảo này từ tay Nhật Bản sau Thế Chiến II.[48]

Tóm lại, những gì có vẻ như đã xảy ra là hơn 13 năm sau khi Pháp sáp nhập các đảo, một hiểu biết khác biệt về những gì đã xảy ra vào năm 1933 đã hình thành vững chắc trong giới cầm quyền Trung Hoa Dân Quốc. Theo tôi đoán, các quan chức Trung Quốc nhầm lẫn một phản kháng có thật năm 1932 về hoạt động của Pháp ở quần đảo Hoàng Sa với một phản kháng năm 1933 không hề tồn tại về quần đảo Trường Sa.

Các cuộc khảo sát trong thập niên 1930

Trong bài báo năm 2002, Shen cho rằng Trung Hoa Dân Quốc, “đã tổ chức ba đợt khảo sát quy mô lớn cùng các hoạt động đặt tên lại tương ứng vào năm 1932, 1935 và 1947” (p.107) nhưng không có công việc khảo sát nào đã được thực hiện ở quần đảo Trường Sa mà chỉ là việc sao chép lại bản đồ quốc tế. Điều này có vẻ là lý do tại sao Trung Hoa Dân Quốc đã dịch sai tên của James Shoal [Bãi Ngầm James] – ban đầu gọi nó là Zengmu Tan [曾母滩 Tăng Mẫu Than)]. Zeng-mu chỉ đơn giản là phiên âm của từ James. Tan [滩 (than)] có nghĩa là bãi cát, trong khi thực tế thì ‘shoal’ là bãi ngầm. Qua việc dịch sai đơn giản này một mảnh đáy biển đã trở thành một đảo và được coi là lãnh thổ cực nam của Trung Quốc cho đến tận hôm nay – dù nó không tồn tại! Những cái tên đó đã được Trung Hoa Dân Quốc sửa đổi lại năm 1947 (lúc đó Zengmu Tan trở thànhZengmu Ansha – [暗沙 (ám sa: rạn san hô ngầm)]) và Trung Quốc chỉnh lại một lần nữa năm 1983.[49]

Tuyên bố Cairo

Shen (2002 p. 139), và Li và Tan (2014 ) lập luận theo đúng Bộ Ngoại giao Trung Quốc rằng theo Tuyên bố Cairo 1943, các đồng minh thời chiến đã trao các đảo ở Biển Đông cho Trung Quốc. Bài của CNA bàn luận về khẳng định này và rạch ròi bác bỏ nó trên cơ sở rằng,


Tuyên bố Cairo, như được củng cố bởi Tuyên Ngôn Potsdam, chỉ quy định rằng Trung Quốc sẽ thu hồi lại Mãn Châu, Formosa [Đài Loan], và Pescadores [Quần đảo Bành Hồ] sau chiến tranh. Câu tiếp theo chỉ đơn giản nói rằng Nhật Bản sẽ bị trục xuất khỏi các ‘vùng lãnh thổ khác’ mà họ đã chiếm bằng bạo lực, nhưng không chỉ ra rằng những ‘vùng lãnh thổ khác’ đó sẽ được trả lại cho Trung Quốc. Dù không được nêu cụ thể, kết luận hợp lý duy nhất là những ‘vùng lãnh thổ khác’ bao gồm cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, vốn đã bị đoạt lấy bằng bạo lực từ tay Pháp chứ không phải từ tay Trung Quốc. (p. 97)

Tuy nhiên, Freeman (2015) lập luận rằng vì nhà chức trách Nhật Bản sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào tỉnh Đài Loan nên Tuyên bố Cairo trả chúng cùng với phần còn lại của ‘Tỉnh Đài Loan’ về cho Trung Quốc. Nhưng Tuyên bố không đề cập đến từ ‘Đài Loan.’ Nó nói về Formosa và Pescadores. Kết luận hợp lý là đồng minh chỉ đồng ý rằng hai quần đảo cụ thể này [Formosa và Pescadores] sẽ được trả lại cho Trung Quốc.

Nhật Bản đầu hàng ở quần đảo Hoàng Sa

Cả bài của CNA lẫn bài thuyết trình của Đại Sứ Freeman đều chuyển tải khẳng định rằng quân đội Trung Quốc tiếp nhận sự đầu hàng của các đơn vị của Nhật Bản trú đóng tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào cuối Thế Chiến II. Freeman lập luận rằng Hải Quân Mỹ thực sự đã chở lực lượng Trung Hoa tới hai quần đảo đó cho mục đích này. Trong trao đổi riêng với tác giả, ông đã không thể cung cấp bất kỳ bằng chứng bổ trợ nào cho khẳng định đó.

Dựa trên những bằng chứng từ kho lưu trữ của quân đội Mỹ và Úc, khẳng định đó khó có vẻ là sự thật. Trong chiến tranh, Nhật Bản đã có các căn cứ quân sự trên Đảo Hoàng Sa (Pattle) và Phú Lâm (Woody) thuộc quần đảo Hoàng Sa và Đảo Ba Bình (Itu-Aba) thuộc quần đảo Trường Sa. Đảo Phú Lâm bị tàu ngầm USS Pargo pháo kích ngày 6 tháng 2 năm 1945[50] và ngày 8 tháng 3 máy bay Mỹ ném bom đảo này cùng với Đảo Hoàng Sa.[51] Khi tàu ngầm USS Cabrilla ghé Đảo Phú Lâm vào ngày 2 tháng 7, cờ tam tài [ba màu] của Pháp còn đang treo, nhưng lúc đó cũng có với một lá cờ trắng [mặt trời] ở trên nó.[52]

Ba Bình đã bị máy bay Mỹ ném bom xăng ngày 1 tháng 5 năm 1945. Sáu tháng sau đó, Hải Quân Mỹ đã phái một toán trinh sát đến Ba Bình. Toán này đổ bộ lên đảo ngày 20 tháng 11 năm 1945 và nhận thấy đảo không người – người Nhật đã bỏ đi.

Mãi cho đến hơn một năm sau đó – tháng 12 năm 1946 mới có một phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc dùng tàu chiến cũ của Mỹ (vừa được chuyển cho Hải Quân Trung Hoa Dân Quốc) mới có thể đi tới được đảo này. (Hai tháng trước đó người Pháp đã đến và khẳng định lại chủ quyền đảo này nhưng điều này hiếm khi được đề cập trong các nguồn Trung Quốc.) Tên tiếng Trung của Ba Bình là Taiping Dao (Thái Bình Đảo), được đặt theo tên tàu chiến chở phái đoàn này. Tàu Taiping trước đây là tàu USS Decker. Điều trớ trêu là nếu như Hoa kỳ không cung cấp những tàu chiến đó thì Trung Quốc sẽ không có yêu sách nào trong quần đảo Trường Sa hiện nay.

Kết luận

Việc xem xét lại các bằng chứng kiểm chứng được cho thấy một lịch sử về các đảo ở Biển Đông khác biệt với lịch sử có trong hầu hết các tài liệu tham khảo thường được sử dụng. Nhà nước Trung Quốc chỉ bắt đầu quan tâm tới các đảo này từ thế kỷ 20. Chưa có bằng chứng nào về việc có viên chức nhà nước Trung Quốc đến quần đảo Hoàng Sa trước ngày 6 tháng 6 năm 1909 đã được đưa ra. Chỉ trong năm 1933 sự chú ý của quốc gia mới chuyển sang quần đảo Trường Sa – và tại thời điểm đó Trung Hoa Dân Quốc đã quyết định không cố yêu sách quần đảo này. Sự chú ý đã được hồi sinh ngay lập tức sau Thế Chiến II, dựa trên những hiểu lầm về những gì xảy ra vào năm 1933 và lần đầu tiên trong lịch sử một quan chức Trung Quốc đặt chân lên quần đảo Trường Sa vào ngày 12 tháng 12 năm 1946.

Năm 1933, 1956, 1974 và hiện nay cũng vậy lịch sử về các đảo này được viết và viết lại. Trong mỗi cuộc khủng hoảng, những người ủng hộ lập trường của Trung Quốc lại công bố những phiên bản mới của lịch sử vốn vẫn tái chế những sai lầm trước đó và đôi khi lại thêm vào trong đó nhiều sai lầm mới của chính họ. Khi mà các cách nhìn nhận này vượt qua rào cản ngôn ngữ nhảy sang tiếng Anh vào giữa thập niên 1970, nền móng lung lay của chúng lại có vẻ rắn chắc đối với những người mới tìm tòi lịch sử lần đầu. Chúng đã được in trên các tạp chí học thuật Phương Tây và ‘trở thành sự thật.’ Nhưng việc xem xét lại các nguồn của chúng làm lộ ra điểm yếu cố hữu của chúng.

Không còn đủ thuận lợi cho những người ủng hộ yêu sách của Trung Quốc dùng những bằng chứng vô căn cứ như vậy làm cơ sở cho lập luận của mình. Đã tới lúc cần thực hiện một nỗ lực phối hợp để xem xét lại các nguồn thông tin gốc đối với phần lớn các khẳng định được các tác giả này đưa ra cũng như đánh giá lại độ chính xác của chúng. Việc giải quyết các tranh chấp phụ thuộc vào đó – cả trong phòng xử án ở The Hague lẫn trong các vùng nước của Biển Đông.

Cựu phóng viên BBC Bill Hayton là tác giả của The South China Sea: The struggle for power in Asia,’ (Biển Đông: cuộc tranh giành quyền lực ở Châu Á), được gọi là cuốn sách đầu tiên đưa ra ý nghĩa rõ ràng về các tranh chấp ở Biển Đông.

Bản dịch được đăng lần đầu trên Viet-studies. Các chú thích do chính tác giả gửi riêng cho người dịch. Nghiencuuquocte.net biên tập một vài chỗ nhỏ trong bản dịch để phù hợp với tiêu chuẩn biên tập của trang.

—————————

[1] Li Dexia and Tan Keng Tat, South China Sea Disputes: China Has Evidence of Historical Claims. RSIS Commentary 165 dated 15 August 2014 Available at http://www.rsis.edu.sg/wp-content/uploads/2014/08/CO14165.pdf. See also Li Dexia, Xisha (Paracel) Islands: Why China’s Sovereignty is ‘Indisputable’. RSIS Commentary 116 dated 20 June 2014. Available athttp://www.rsis.edu.sg/wp-content/uploads/2014/07/CO14116.pdf

[2] Charles Freeman, Diplomacy on the rocks. Remarks at a Seminar of the Watson Institute for International Studies, Brown University 10 April 2015. http://chasfreeman.net/diplomacy-on-the-rocks-china-and-other-claimants-in-the-south-china-sea/

[3] Pete Pedrozo, China versus Vietnam: An Analysis of the Competing Claims in the South China Sea, Center for Naval Analyses, August 2014. Available athttp://www.cna.org/sites/default/files/research/IOP-2014-U-008433.pdf

[4] Hungdah Chiu & Choon‐Ho Park (1975): Legal status of the Paracel and Spratly Islands,Ocean Development & International Law, 3:1, 1-28.

[5] Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea, Methuen New York, 1982.

[6] Greg Austin, China’s Ocean Frontier: International Law, Military Force, and National Development. Allen & Unwin, 1998

[7] Jianming Shen, International Law Rules and Historical Evidence Supporting China’s Title to the South China Sea Islands, 21 Hastings International and Comparative Law Review. 1‐75 (1997‐1998).

[8] Jianming Shen, China’s Sovereignty over the South China Sea Islands: A Historical Perspective, CHINESE JIL (2002), pp. 94‐157

[9] Brian K. Murphy, Dangerous Ground: the Spratly Islands and International Law, Ocean and Coastal L.J. (1994), pp. 187–212

[10] Chi-kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes: The Case of the South China Sea Islands. Routledge 1989

[11] Cheng Huan, A matter of legality. Far Eastern Economic Review. February 1974

[12] Chi-Kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes. Routledge, London. 1989

[13] Tao Cheng, Dispute over the South China Sea Islands, Texas International Law Journal 265 (1975)

[14] Chiu & Park (1975) ibid

[15] Dieter Heinzig. ‘Disputed islands in the South China Sea: Paracels, Spratlys, Pratas, Macclesfield Bank’ Institut für Asienkunde (Hamburg). 1976

[16] Wai-chiao p’ing-lun [Ngoại Giao Bình Luận], Shanghai, vol. 2, no. 10 (October 1933), pp. 64-65

[17] Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo]], vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933), p. 78

[18] Fan-chih yüeh-k’an [Phương Chí Nguyệt San], vol. 7, no. 4 (Nanking, April 1, 1934), p. 2

[19] Wai-chiao-pu kung-pao, [Công Báo Bộ Ngoại Giao] vol 6, no. 3 (July-September 1933), p. 208

[20] Cheng Tzu-yüeh, Nan-hai chu-tao ti-li chih-lūeh [Nam Hải Chư Đảo Địa Lí Chí Lược] (Shanghai: Shang-wu ying-shu-kuan, 1948).

[21] Tuyên bố do Bộ Ngoại Giao Trung Hoa Dân Quốc đưa rangày 10 tháng 6 năm 1956, tóm lược trong “Vietnamese Claim of Sovereignty Refuted,” Free China Weekly, June 26, 1956, p. 3;Chung-yang jih-pao, June 11, 1956, p. 6; Shao Hsun-cheng, “Chinese Islands in the South China Sea,” People’s China, no. 13 (Peking, 1956) Foreign Languages Press

[22] Lien-ho-pao [United daily news], overseas edition, February 25, 1974, p. 3; “Memorandum on Four Large Archipelagoes,” ROC Ministry of Foreign Affairs (February 1974).

[23] Ming Pao (nguyệt san) No. 101 May 1974

[24] Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea’, Methuen, New York. 1982

[25] Chris P.C. Chung, “Since Time Immemorial”: China’s Historical Claim in the South China Sea. MA Thesis, University of Calgary, September 2013. p8

[26] PRC Ministry of Foreign Affairs, China’s indisputable sovereignty over the Xisha and Nansha islands, Beijing Review Vol. 23 No.7 1980 pp15-24

[27] Lin Jinzhi, Renmin Ribao (People’s Daily) 7 April 1980. FBIS-PRC-80-085 30 April 1980 p.E6

[28] Duanmu Zheng ed. Guoji Fa (International Law) Peking University Press, Beijing 1989

[29] Điều đáng lưu ý là Duanmu không phải là đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc mà là thành viên của Liên Đoàn Dân Chủ Trung Quốc. Colin Mackerras, The New Cambridge Handbook of Contemporary China. Cambridge University Press, 2001 p85.

[30] Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal. Discussion Paper #14. IRASEC (Research Institute on Contemporary Southeast Asia), Bangkok. November 2012

[31] Ulises Granados, As China Meets the Southern Sea Frontier: Ocean Identity in the Making, 1902-1937. Pacific Affairs Vol. 78, No. 3 (Fall, 2005), pp. 443-461

[32] Xem, đặc biệt là, Stein Tonnesson, The South China Sea in the Age of European Decline.Modern Asian Studies. Vol 40, Issue 01. February 2006, pp 1-57 and An International History of the Dispute in the South China Sea, East Asia Institute Working Paper No. 71 (2001)

[33] The Times “Chinese foreign relations” Jan 18, 1908; pg. 5; The Times “The recent piracy in Canton waters”. Jan 25, 1908; pg. 5

[34] The Examiner (Launceston, Tasmania) “China and her islands-keeping an eye on foreign nations” Saturday 12 June 1909 p 8

[35] Xem Granados (2005) phía trên.

[36] Điều này được chính quyền Tỉnh Quảng Đông tiết lộ năm 1933. XemCho Min, “The Triangular Relation- ship Among China, France and Japan and the Question of Nine Islands in South Sea,” Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo], Vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933); p. 82, note 4.

[37] Hydrographic Office, The Admiralty, The China Sea Directory, Vol. 2, London, 1889, p.103. Quoted in Bonnet 2012

[38] Tham khảo của Cheng: Saix, Iles Paracels, La Geographie (Nov.-Dec. 1933), reprinted in 3Wai Chiao Ping Lun (Foreign Affairs Review), No. 5 (Hu Huan-Yung Chinese transl. May 1934), at 65-72;, at 67; Hu, Fa-jen Mou-tuo Hsi-Sha Ch’ün-tao [The French Plot to Snatch the Paracel Islands], 3 Wai Chiao Ping Lun (Foreign Affairs Review), No. 4 (April 1934), at 92.

[39] “On Li Chun’s Patrol of the Sea”(Về chuyến tuần tra của Lí Chuẩn) Kuo-wen chou-pao[National news weekly], vol. 10, no. 33 (August 21, 1933), p. 6.

[40] Committee of Place Names of the Guangdong Province [Guangdong sheng di ming wei yuan hui (Quảng Đông Tỉnh địa danh uỷ viên hôi)], Compilation of references of the names of all the South Sea islands [Nan Hai zhu dao di ming zi liao hui bian (Nam Hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên)], Guangdong Map Publishing Company [Guangdong sheng di tu chu ban she], 1987, p.289

[41] Bài viết do Francois-Xavier Bonnet trình bày tại the Southeast Asia Sea conference, Ateneo Law Center, Makati, Manila. March 27 2015. (Tường thuật có ở đây:http://opinion.inquirer.net/84307/a-chinese-strategy-manipulating-the-record)

[42] Lu, Hsi-sha Ch’iin-tao Chih-yao [Tây Sa Quần đảo Sơ yếu], 9 Hsin Ya Hsi Ya Yueh Kan No. 6 (June 1935), at 50-54.

[43] Cho Min, “The Triangular Relationship Among China, France and Japan and the Question of Nine Islands in South Sea,” Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo], vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933), p. 78.

[44] Cheng Tzu-yüeh [Trịnh Tư Ước], Nan-hai chu-tao ti-li chih-lūeh [Nam Hải chư đảo địa lí chí lược] (Shanghai: Shang-wu ying-shu-kuan, 1948), p.80

[45] Jianming Shen, International Law Rules and Historical Evidence Supporting China’s Title to the South China Sea Islands, 21 Hastings International and Comparative Law Review. 1‐75 (1997) footnote 160.

[46] François-Xavier Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal, IRASEC Discussion Papers #14, Bangkok November 2012.

[47] Wai Jiao bu nan hai zhu dao dang an hui bian [Ngoại Giao Bộ Nam Hải chư đảo đương án hội biên], Vol. 1, Taipeh, 1995, p. 47-49. Trích dẫn trong François-Xavier Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal. Discussion Paper #14. IRASEC (Research Institute on Contemporary Southeast Asia), Bangkok. November 2012

[48] Xem Ministry of Foreign Affairs, “Nansha Qundao [南沙群島, or the “Spratly Archipelago”],” The Historical Archives of the Department of Modern History in the Academia Sinica [Zhongyang Yanjiuyuan Jindaishi Yanjiusuo Dang’an Guancang 中央研究院近代史研究所檔案館藏], file series 019.3/0012, file 031. This ROC official telegram is dated August 24, 1946. AND Ministry of Foreign Affairs, “Nansha Qundao [南沙群島, or the “Spratly Archipelago”],” The Historical Archives of the Department of Modern History in the Academia Sinica [Zhongyang Yanjiuyuan Jindaishi Yanjiusuo Dang’an Guancang 中央研究院近代史研究所檔案館藏], file series 019.3/0012, file 145-146. This ROC official telegram is also dated to 1946. The month is unclear.

[49] Chen Keqin, Zhong guo nan hai zhu dao (Trung Quốc Nam Hải chư đảo) Hainan International Press and Publication Center, Haikou 1996

[50] A.B. Feuer, Australian Commandos: Their Secret War Against the Japanese in World War II (Mechanicsburg, Pennsylvania, 2006), Chapter 6.

[51] US Navy Patrol Bombing Squadron 117 (VPB–117), Aircraft Action Report No. 92, available athttp://www.fold3.com/image/#302109453.

[52] US Navy, USS Cabrilla Report of 8th War Patrol, available athttp://www.fold3.com/image/#300365402 .

- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/06/01/cac-thuc-te-va-su-bia-dat-o-bien-dong/#sthash.bvtg8OXH.yOjtJ0a9.dpuf

Chủ Nhật, ngày 31 tháng 5 năm 2015

Tranh chấp Biển Đông càng để lâu càng bất lợi

Theo dõi tình hình Biển Đông ta thấy VN có dù là nạn nhân chính và đầu tiên của CN bành trướng bá quyền TQ nhưng luôn tỏ ra là bên tranh chấp "bình chân như vại" nhất trong bất cứ tình huống nào , kể cả từ vụ giàn khoan 981 đến vụ "đảo nhân tạo" . Lạc quan là một đức tính rất đáng trân trọng, nhưng nguyên nhân và hệ quả của nó mới là điều đáng quan tâm. Bài báo dưới đây của người Nhật cho ta một cách nhìn khách quan góp phần giải đáp mối quan tâm này.

Liệu sau 40 năm qua đã đủ để nhìn lại toàn bộ vấn đề chưa? Trong nhiều câu hỏi có một vài câu hỏi khiến ai cũng phải suy ngẫm. Đó là , nếu một cuộc đụng độ thật sự đã không bị Hà Nội cố tình tránh né với Bắc Kinh kể từ vụ xâm lược Hoàng Sa (năm 1974) hoặc chậm hơn là vụ xâm lược Gạc Ma (năm 1988) thì chắc giờ đây không có cái gọi là "vấn đề tranh chấp Biển Đông"  hoặc nếu có thì chỉ là âm ỉ không đáng quan ngại? Phải chăng thế giới, đặc biệt là VN, đã để tuột mất những cơ hội và giờ đây là một cơ hội cuối cùng khả dĩ còn có thể cứu vãn?

Thứ Ba, ngày 19 tháng 5 năm 2015

7 lý do Trung Quốc sẽ phát động một cuộc chiến từ nay tới 2017

Đây là bài viết dưới đây của tác giả Mỹ  được địch và đăng trên TTXVA ngày hôm nay 19/5/ 2015. Cho rằng trong bối quan hệ Mỹ-Trung  có chiều hướng căng thảng lên trước việc TQ tỏ rõ quyết tâm độc chiếm Biển Đông và do đó đe dọa nghiêm trọng tuyến đường biển quốc tế cũng như đe dọa quyền lợi và vị thế của Mỹ tại đây, xin đăng lại bài viết để bạn đọc tham khảo, không nhất thiết phản ảnh quan niệm của chủ blog (Bạn có thể đọc bản gốc tiếng Anh tại trang English trên thanh công cụ ngang của blog này)  - Bách Việt 


TRUNGQUOC-CHIENTRANH

Đâu là những nguyên nhân chính có thể dẫn đến một cuộc chiến do Trung Quốc phát động? Nhật Bản và Mỹ cần chuẩn bị những gì để đối phó nếu như kịch bản này xảy ra?

Thứ Hai, ngày 18 tháng 5 năm 2015

Biển Đông đến hồi quyết liệt

TTCT 15/5/2015 - Những động thái và ngôn từ của Trung Quốc ngày càng tỏ rõ “muốn gì”. Tuy nhiên, sự “muốn gì” đó không hẳn sẽ còn được “ung dung” như trước nữa.
Đơn vị chống khủng bố của Philippines và lực lượng tuần duyên Nhật Bản (phải) chuẩn bị cuộc diễn tập tại vịnh Manila ngày 6-5-2015 - Ảnh: Reuters

Thứ Năm, ngày 14 tháng 5 năm 2015

Đã tới lúc phải đổi tên Biển Đông Nam Á

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN vừa kết thúc mà không đem lại tín hiệu có ý nghĩa nào về một giải pháp sớm cho tranh chấp Biển Đông. Khi mà các nhà lãnh đạo vẫn còn theo đuổi con đường ngoại giao cần thiết, thì những hành động mang tính quyết định hơn có thể sẽ được cần tới, trong đó có việc đổi tên Biển Hoa Nam (tên quốc tế của Biển Đông - ND) thành “Biển Đông Nam Á”.

Bộ Quốc phòng Mỹ yêu cầu kéo máy bay, tàu chiến đến Trường Sa

GDVN, 13/5/2015 – Carter đã yêu cầu thuộc cấp xem xét lựa chọn này, bao gồm việc điều động máy bay hải quân giám sát các đảo nhân tạo, đồng thời điều tàu quân sự tiến vào …




The Wall Street Journal ngày hôm nay đưa tin, quân đội Mỹ đang xem xét khả năng kéo máy bay và tàu chiến đến một chuỗi đảo nhân tạo Trung Quốc đang mở rộng (bất hợp pháp) một cách nhanh chóng ở Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam). Bộ trưởng Quốc phòng Ash Carter đã yêu cầu thuộc cấp xem xét lựa chọn này, bao gồm việc điều động máy bay hải quân giám sát các đảo nhân tạo, đồng thời điều tàu quân sự tiến vào trong phạm vi 12 hải lý tại 7 bãi đá Trung Quốc đang xây dựng (bất hợp pháp).

Thứ Tư, ngày 29 tháng 4 năm 2015

​Kịch bản không mong muốn cho biển Đông


TT - Các nhà lãnh đạo ASEAN cho rằng cần phải bảo đảm giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế. 


Các nhà lãnh đạo ASEAN tại Malaysia ngày 27-4. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng thứ ba từ trái sang. Ảnh: EPA

Tuyên bố chung Cấp cao ASEAN 26 đã đánh trúng gót chân Achin của Bắc Kinh


Đài BBC tiếng Việt hôm qua đưa tin với tiêu đề  "TQ lo ngại về tuyên bố của ASEAN". Theo thiển nghĩ của chủ Blog Bách Việt, việc các nhà lãnh đạo cấp cao ASEAN 26 đã vượt qua sự bất để thống nhất đưa được vào Tuyên bố chung nội dung phản đối hành động xây đảo nhân tạo của TQ tại quần đảo Trường Sa là một thắng lợi "có tính đột phá", đã chạm vào gót chân Achin mà lâu nay Bắc Kinh ra sức che đậy. Đây là hướng đi đúng mà ASEAN cần tiếp tục phát huy nếu muốn làm thất bại âm mưu bành trướng và độc chiếm Biển Đông của TQ- Bách Việt. 


Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 26 diễn ra tại Malaysia



Trung Quốc “vô cùng lo ngại” về Tuyên bố của ASEAN liên quan vấn đề Biển Đông, nhắc đến việc tôn tạo, bồi đắp đang diễn ra ở Biển Đông.


Thứ Bảy, ngày 18 tháng 4 năm 2015

Các nước ĐNÁ, kể cả VN chưa có cách ứng phó hữu hiệu ở Biển Đông

Đó là nhận xét của Đô đốc Samuel Locklear - Chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ mới đây và được đài VOA ngày 16-04-2015 đưa tin.
Như một sự trùng hợp minh họa cho nhận xét trên, hôm qua 2 chiếc máy bay chiến đấu của Không quân VN đang diễn tập tại vùng biển đảo Phú Quý đã cùng lúc lao xuống biển trong một tai nạn. Nhiều năm nay tàu thuyền Trung Quốc xâm phạm trắng trợn và rất sâu trong hải phận của VN như vào chỗ không người, dân chài miền Trung liên tục là nạn nhân của tàu thuyền Trung Quốc. Qua cụ giàn khoan 981 cho thấy sự chênh lệch lực lượng hoàn toàn với đối phương. Người dân khó hiểu về tiềm lực quốc phòng thật sự của đất nước đến mức nào, và tại sao con số tướng lĩnh tăng cao nhất thế giới nhưng chất lượng binh lực lại dẫm chân tại chỗ, nếu không nói là tụt hậu, đặc biệt quá yếu kém so với đối phương? Liệu điều gì sẽ xảy ra nếu kẻ thù lại một lần nữa phát động chiến tranh xâm lược bành trướng?
Nhân đây cũng xin lưu ý về câu kết trong phát biểu của Đô đốc Samuel Locklear: "Trung Quốc đang theo đuổi tham vọng của mình với quyết tâm rất lớn và chính sách của Mỹ cần phải được điều chỉnh một cách thận trọng.". Sự "thận trọng" này của Mỹ là gì nếu không phải là "có giới hạn", và giới hạn đó là gì thì người VN có thể nhận biết qua quá trình người Mỹ đã dung túng TQ lấn chiếm Biển Đông như thế nào thời gian qua. Và nếu nói Việt Nam "dựa vào nội lực là chính", thì chắc là khó lắm khi mà "thế trận lòng dân" không còn nữa - Bách Việt. 

Thứ Tư, ngày 15 tháng 4 năm 2015

Báo chí thế giới đồng loạt lên án hành động của Trung Quốc ở Biển Đông

Dân trí 15/4/2015: Trong những ngày qua, báo chí Mỹ và châu Âu đã đồng loạt có nhiều bài viết mổ xẻ các hành động gia tăng căng thẳng của Trung Quốc ở Biển Đông, đặc biệt là việc nước này đẩy mạnh cải tạo, mở rộng đảo.

 >> Trung Quốc ráo riết xây dựng trái phép ở Hoàng Sa
 >> Trung Quốc đưa tàu khảo cổ trái phép tới Hoàng Sa 
 >> Câu hỏi sau những dự án khổng lồ của Trung Quốc

Báo chí thế giới đồng loạt lên án hành động của Trung Quốc ở Biển Đông
Các hoạt động của Trung Quốc nhằm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông đang khiến cộng đồng quốc tế quan ngại (Ảnh: DailyMail)

Thứ Hai, ngày 13 tháng 4 năm 2015

Chuyến đi "lợi bất cập hại"

Duyệt đội danh dự tại Bắc Kinh  
Chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Trung Quốc đã bước sang ngày cuối cùng, tuy chưa hoàn toàn kết thúc nhưng phần nội dung đã được truyền thông của cả hai nước loan báo đủ để những ai quan tâm cũng có thể bình luận mà không lo bị cho là "thiếu thông tin". Theo sự mô tả của truyền thông chính thống của cả hai nước, thì chuyến thăm có vẻ như là thành công lớn nhất kể từ khi Trung Quốc công khai tiến hành các hoạt động bành trướng trên toàn bộ Biển Đông kể cả đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như dọc bờ biển của Việt Nam. Thậm chí có người tin rằng sau chuyến thăm tình hình sẽ tốt đẹp hơn như thể "hết mưa trời lại nắng" vậy ! Đối với người Việt Nam vốn hay lạc quan, thì cảm giác này cũng là dễ hiểu, vì  nếu không, làm sao họ có thể tồn tại dưới cái bóng của gã khổng lồ trong hàng ngàn năm qua (!?) Thôi thì, nếu khi nào còn có thể, hãy sống bằng hy vọng. Nhưng cũng đừng quên những phen vỡ mộng lắp đi lắp lại chỉ trong vòng 1/2 thế kỷ qua. Và cũng đừng quên bờ cõi giang sơn Việt Nam dù  phải dịch chuyển về phía Nam vẫn chưa thể tránh khỏi nguy cơ bị thôn tính.

Thứ Năm, ngày 09 tháng 4 năm 2015

Xu thế ghét Trung Quốc: Vài lời ngỏ cùng Bộ trưởng Phùng Quang Thanh

(Bài do tác giả gửi đến Blog Bách Việt)



Trong bài phát biểu của mình tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2014 của Chính phủ, ông Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng tỏ vẻ bất an và bực bội về hiện tượng tâm lý trong xã hội Việt Nam ta, đó là hiện tượng mà ông ta gọi là xu thế “ghét Trung Quốc”.

Thứ Tư, ngày 11 tháng 3 năm 2015

Bắc Kinh khẳng định Biển Đông là sân nhà của Trung Quốc


Đòi hỏi chủ quyền của các bên tại Biển Đông
Theo RFI, 9-3-2015): Trong một cuộc họp báo ngày 08/03/2015 tại Bắc Kinh, Ngoại trưởng Vương Nghị đã bác bỏ thẳng thừng những phản đối của nước khác về việc Trung Quốc đang đẩy mạnh các công trình bồi đắp đảo nhân tạo tại vùng quần đảo Trường Sa, nơi có tranh chấp với các láng giềng trong đó có Việt Nam. Ông Vương Nghị đã không ngần ngại khẳng định : Biển Đông là « nhà » và là « sân » của Trung Quốc.

Dựa theo câu hỏi của Tân Văn Xã (China News Service) – hãng tin chính thức thứ hai tại Trung Quốc sau Tân Hoa Xã – theo đó phải chăng là hoạt động bồi đắp các bãi đá và rạn san hô của Trung Quốc ở Biển Đông báo hiệu một sự thay đổi trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông và thậm chí đối với cả các láng giềng, ông Vương Nghị đã lại khẳng định là chính sách Trung Quốc không thay đổi.


Thứ Tư, ngày 28 tháng 1 năm 2015

Chuyện bà “Hoa Trung Quốc” và bà “Hoa Việt Nam”

Bùi HOàng Tám /Dân trí, 28/1/2015  - Bà “Hoa Trung Quốc” đây là gọi bà Hoa Xuân Oánh – người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và bà “Hoa Việt Nam” là bà Huỳnh Thị Như Hoa, một ngư dân Việt Nam.

Thứ Tư, ngày 21 tháng 1 năm 2015

Điều gì đang chờ đợi Việt Nam trên Biển Đông năm 2015?


Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn chắc tay súng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Hình minh họa.

Ngày 16/1 tờ The Diplomat đăng bài phân tích của Khang Vu, một nhà phân tích quan hệ quốc tế từ New London, New Hampshire, Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam có thể tận dụng các mối quan hệ với các nước TPP (Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương) để bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông. Những vấn đề đặt ra cho ngoại giao Việt Nam năm 2015 là một mớ hỗn độn, phức tạp, chủ yếu là do căng thẳng với Trung Quốc ở Biển Đông.

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 1 năm 2015

Quan hệ Việt-Trung đã hết thời triều cống

Đối với người Việt và cả người TQ, những năm chẵn thường được coi trọng hơn hơn năm lẻ. Vậy năm 2015 là con số đẹp đáng được chọn để điểm lại mối quan hệ giữa hai nước láng giềng bất đắc dĩ này, đặc biệt trong thời kỳ 70 năm qua và thời gian sắp tới.

Xâm lấn và bành trướng lãnh thổ là bản chất của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán 

Có thể nói quan hệ Việt-Trung là một trong những cặp quan hệ chứa đựng đầy đủ đặc điểm của loại hình quan hệ giữa các quốc gia dân tộc từ thời thượng cổ đến thời hiện đại, đặc biệt là quá trình đấu tranh sinh tồn của một nước nhỏ trước họa bành trướng của một nước lớn cận kề. Điều này được minh chứng rõ ràng trong cả quá trình lịch sử lâu đời từ thời tiền sử đến ngày nay. Có số liệu tổng kết rằng kể từ khi thoát khỏi ánh đô hộ 1.000 năm Bắc thuộc Việt Nam đã hứng chịu không dưới 12 cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn từ Trung Quốc (chưa kể cuộc chiến tranh biên giới 1979). Lịch sử cho thấy ngay từ thời nhà Hạ bên Trung Quốc tương đương thời vua truyền thuyết Kinh Dương Vương của Việt Nam tức quảng cuối Thiên niên kỷ thứ 3 trước CN, Hán tộc từ phía Bắc đã lấn chiếm lãnh địa của Việt tộc ở phía Nam sông Dương Tử. Đến thời các triều đại An Dương Vương, Triệu Việt Vương (Triệu Đà) và Hai Bà Trưng kéo dài quảng 300 năm trước và sau CN tuy được coi là thời kỳ quật khởi của người Việt nhưng cuối cùng vẫn bị Hán tộc dồn đẩy về phía Nam. Tiếp đến là thời kỳ 1.000 năm Bắc thuộc mà qua đó tộc Lạc Việt không chỉ bị dồn đẩy đến tận cùng phía Nam mà còn đứng trước nguy cơ bị đồng hóa hoàn toàn như nhiều tộc Việt anh em của họ bên Trung Quốc. 

May thay nguy cơ này đã được cứu vãn qua hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của người Việt bản địa kết hợp với những người gốc gác Bách Việt hội tụ về đây để chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất và thiết lập lại nền độc lập tự chủ với bản sắc Việt tộc của mình. Nền độc lập này được khẳng định vào năm 1077 với bài hịch nổi tiếng của Vua Lý Thường Kiệt: 

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tuyệt nhiên định phận tại Thiên Thư, 
Như Hà nghịch lỗ lai xâm phạm, 
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư. 

Cũng hoàn toàn không phải vô cớ mà Vua Quang Trung sau khi đánh bại quân Thanh năm 1792 đã rắp tâm lấy lại vùng lãnh thổ Lưỡng Quảng nhưng không may lâm bạo bệnh qua đời chưa thực hiện được. Điều này cho thấy ý thức về nguồn cội dân tộc và lãnh thổ vẫn luôn còn đó trong tâm thức người Việt. 

Bàn về sự thật lịch sử quan hệ Hán-Việt, một học giả Trung Quốc tên là  Le Oa Đằng mới đây có bài viết cho rằng Việt Nam là hậu duệ, là đại diện của người Bách Việt. Trong bài viết, ông cũng cho rằng người Việt Nam là chủ nhân đích thực của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (chứ không phải như tài liệu tuyên truyền của Bắc Kinh rêu rao). 

Thực tế cũng cho thấy hoàn toàn không đơn giản như một số người vẫn còn ảo tưởng rằng Trung Quốc dưới chế độ cộng sản và XHCN không còn bản chất xâm lược bành trướng! Nói cách khác, không có một phép màu nhiệm nào có thể làm thay đổi bản chất và cục diện quan hệ giữa hai cựu thù mà trong đó nước lớn Trung Quốc luôn lăm le xâm lược và thôn tính nước nhỏ Việt Nam. Mặt khác, thực tế lịch sử cũng cho thấy, dù chưa thể thôn tính và đồng hóa được Việt Nam, nhưng các thế lực bành trướng Đại Hán đã và đang khá thành công trong thủ đoạn kìm hãm Việt Nam trong vòng cương tỏa của chúng để dễ bề tiếp tục lấn chiếm và bành trướng lãnh thổ về phía Nam.

Chuyển hướng bành trướng từ đất liền ra biển 

Trong bối cảnh thế giới ngày nay, mọi quốc gia đều tồn tại trong sự tùy thuộc lẫn nhau một cách cao độ khiến cho việc mang quân xâm lược một cách công khai trắng trợn đối với một quốc gia khác không phải là giải pháp khôn ngoan nếu không nói là không thể thành công. Điều này giới lãnh đạo Bắc Kinh chắc chắn đã nhận ra, nhưng đồng thời cũng nhận thấy rằng niềm tự hào là Vương quốc ở "giữa thiên hạ" (Middle Kingdom) nay lại ở vào thế bị kẹt giữa thiên hạ, và do đó nung nấu tham vọng mở rộng không gian phát triển ra phía đại dương là hướng mà ông cha họ chưa bao giờ nghĩ tới. Nếu như các triều đại Vương Triều xưa chỉ biết mở rộng bờ cõi bằng cách lấn chiếm đất đai của các nước kế cận, thì giới lãnh đạo Trung Quốc ngày nay đã biết coi trong vai trò của biển và đại dương. Và đó là nguyên nhân khiến họ thay đổi hướng xâm lược bành trướng bằng cách lấn chiếm biển đảo của các nước ven  Biển Hoa Đông và Biển Đông, xa hơn sẽ là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, không loại trừ Nam Cực. 
Sơ đồ về phạm vi đòi hỏi chủ quyền của các nước tại Biển Đông 

Tất nhiên để thực hiện hướng bành trướng phi truyền thống này, Bắc Kinh phải tính toán và chuẩn bị kỹ lưỡng theo phương châm "ẩn mình chờ thời" của cựu lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đề ra, bởi lẽ các vùng biển này đều đã có chủ; chỉ còn cách làm sao để "biến không thành có". Và Bắc Kinh chỉ còn cách là xâm chiếm biển đảo của các nước khác cũng như một số vùng biển thuộc hải phận quốc tế.

Để thực hiện âm mưu đó, suốt 70 năm nay giới lãnh đạo Bắc Kinh đã và đang kiên trì bằng mọi thủ đoạn, khi thì giả vờ hữu hảo, khi thì trở mặt gây sức ép quân sự, chính trị, kinh tế đối với Việt Nam. Thời điểm họ lựa chọn đánh chiếm Hoàng Sa đầu năm 1974, rồi đánh chiếm một số bãi đá ở Trường Sa đầu 1988 cho thấy chiến thuật đó. Vụ Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào khoan thăm dò dầu khí sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tháng 6/2014 đồng thời với chiến dịch "đảo hóa" tại một số bãi ngầm giữa Biển Đông đều nhằm phục vụ ý đồ độc chiếm Biển Đông, trong đó mục tiêu chính là thiết lập những "cột mốc chủ quyền" mới của Trung Quốc trên Biển Đông. 

Thay đổi chiến thuật và hướng bành trướng là việc của Trung Quốc. Nhưng có điều trớ trêu là, sự thay đổi hướng bành trướng ra biển như nói trên lại một lần nữa đặt Việt Nam vào thế đối đầu trực diện với Trung Quốc, đơn giản vì Việt Nam là nước có bờ biển chạy dài từ Bắc xuống Nam và cũng là chủ nhân của 2 quần đảo ngoài khơi Biển Đông án ngữ trên con đường bành trướng của "Vương Triều mới". Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc không chỉ đe dọa Việt Nam mà còn đe dọa lợi ích của các quốc gia ven Biển Đông khác cũng như toàn bộ khu vực ASEAN và thế giới, đặc biệt các cường quốc hàng hải  như Nhật, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Anh, Pháp, v.v...  Sự độc chiếm của Trung Quốc đối với 2 quần đảo này đồng nghĩa với việc quốc tế  mất quyền đi lại tự do trên Biển Đông và điều này là không thể chấp nhận được. Nói cách khác, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam nhưng chúng đều nằm trong vùng biển quốc tế và do đó vai trò bảo vệ còn phụ thuộc vào quốc tế . Chính vì lý do này, để tránh sức ép quốc tế, Bắc Kinh luôn một mực khước từ việc "quốc tế hóa" đối với mọi tranh chấp ở Biển Đông đồng thời ra sức chia rẽ nội bộ ASEAN để cô lập Việt Nam.   

Với cục diện đã hoàn toàn thay đổi trên thế giới ngày nay khi mà mọi hành động gây hấn của một quốc gia đều có thể nhanh chóng biết đến trên quy mô toàn cầu. Thế giới đã lập ra nhiều tổ chức quốc tế với rất nhiều thiết chế luật lệ để điều phối các mối quan hệ giữa các quốc gia. Mặc khác, với trình độ giao thông liên lạc vô cùng nhanh nhạy, với các mối quan hệ trao đổi kinh tế, thương mại, khoa học-công nghệ, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng vô cùng đa dạng, đa năng ngày nay thì quảng cách không còn là vấn đề lớn trong khái niệm lựa chọn đối tác, bạn-thù và đồng minh. Trong hoàn cảnh và điều kiện mới của thế giới ngày nay, một nước lớn nếu có ý đồ khống chế hay "bắt nạt" một nước nhỏ quả là không dễ dàng và đơn giản như trong quá khứ. Bài học của Mỹ tại Trung Đông và Nga tại Ucraina hiện nay cho thấy điều này. Và Trung Quốc sẽ không phải là ngoại lệ. 

Trung Quốc đã thay đổi Việt Nam không thay đổi mới là chuyện lạ

Như đã nói trên đây, chính sách bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc vẫn còn đó nhưng hướng và biện pháp đã có những thay đổi cơ bản. Xưa kia Trung Quốc chỉ bành trướng trên bộ, nay bành trướng ra hướng biển và đại dương. Trước đây mỗi khi các triều đại Trung Quốc tiến đánh Việt Nam, dù thắng hay thua, thế giới có thể không biết hoặc biết khi đã quá muộn. Vào thời đó hầu như chưa có khái niệm về sự can thiệp giúp đỡ từ quốc tế.  Trong hoàn cảnh đó Việt Nam không có cách nào khác là phải tự mình tìm cách thích ứng để tồn tại bên cạnh Vương Triều. Đó là lý do của sự ra đời sách lược mềm dẻo khôn khéo và thái độ nín nhịn "tránh voi chẳng xấu mặt nào", kể cả việc phải "triều cống" bằng lễ vật đối với kẻ thù ngay cả sau khi đã đánh bại chúng. Và sách lược đó đã cho thấy hiệu quả trong suốt hàng trăm năm trước đây và đã trở thành nếp nghĩ và là ưu tiên lựa chọn đối với  người Việt Nam trong quan hệ với nước lớn Trung Quốc.  


Tiếp đến trong 70 năm qua sau khi thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp người Việt Nam lại sa vào một cái bẩy mới của Trung Quốc-đó là khái niệm "tương đồng về ý thức hệ" giữa hai nước cùng theo chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Về mặt này, người Việt Nam tỏ ra trung thành hơn cả người Trung Quốc, biểu hiện ở chỗ là, trong khi Trung Quốc liên tục "đổi màu" bằng những bước đi dài với phương châm "mèo trắng mèo đen miễn bắt được chuột" thì người Việt Nam chỉ dừng lại ở khái niệm "đổi mới" chung chung một cách dè dặt. Sau bao phen bị "ông anh" cùng ý thức hệ phản bội bằng những cuộc chiến tranh nóng cùng với các thủ đoạn phá hoại ngầm về kinh tế-chính trị-xã hội khiến Việt Nam phải điêu đứng, nhưng người Việt Nam xem ra vẫn còn hy vọng vào những lời hứa hão huyền "4 tốt", "16 chữ vàng", "lấy đại cục làm trọng", "anh em tốt, láng giềng tốt" v.v...

Lẽ ra khi Trung Quốc thay đổi phương thức và địa bàn bành trướng thì Việt Nam cũng phải thay đổi phương thức đấu tranh, trước hết không việc gì phải quá lo sợ về một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn từ Trung Quốc; điều đáng lo hơn là âm mưu của Bắc Kinh một mặt kìm giữ VN trong vòng cương tỏa của họ, một mặt chia rẽ nội bộ Việt Nam và chia rẽ Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó là thủ đoạn mà Bắc Kinh ráo riết áp dụng từ thời đảng Cộng sản lên nắm quyền và đã khá thành công trong những năm gần đây khi họ nhiều lần "trùm chăn đánh Việt Nam" mà thế giới không biết hoặc chỉ biết khi sự đã rồi. Đó là trường hợp cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc đến các cuộc chiến tranh chớp nhoáng ở Hoàng Sa, Trường Sa, tất cả đều diễn ra tay đôi giữa hai nước cộng sản anh em. Sự kiện giàn khoan HD 981 lúc đầu cũng đã bị ém nhẹm; nếu không được công luận lên tiếng qua mạng internet thì chắc sự im lặng đó còn kéo dài hơn và hậu quả có thể đã xấu hơn. E rằng việc Bắc Kinh đang ráo riết xây dựng căn cứ quân sự tại các bãi đá giữa Biển Đông đang có nguy cơ rơi vào yên lặng và trở thành "sự đã rồi " như các đợt lấn chiếm trước đó. Cho đến nay Trung Quốc chưa trả lại và cũng không có ý định trả lại những phần lãnh thổ biển đảo đã lấn chiếm của Việt Nam.        

Phải chăng bài học đối với Việt Nam ngày nay là không nên ngần ngại hoặc nín nhịn quá mức mà phải thể hiện thái độ công khai dứt khoát đối với mọi vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, đặc biệt tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, theo tinh thần luật pháp quốc tế bất luận Bắc Kinh có bằng lòng hay không. Đồng thời đường lối "sẵn sàng làm bạn với tất cả" cần được thể hiện một cách cụ thể qua việc tăng cường quan hệ với các nước thứ ba như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, v.v... coi đó là nhân tố cần thiết để ứng phó với Trung Quốc trong những tình huống xấu nhất. Vẫn biết quan hệ với Trung Quốc là quan trọng và cần được ưu tiên giữ gìn, nhưng để tránh chiến tranh với Trung Quốc cách tốt nhất là tiến hành các biện pháp răn đe phòng ngừa từ trước, chứ không phải chỉ có nín nhịn cho đến khi nó xảy ra. Trung Quốc không bao giờ từ bỏ tham vọng độc chiếm Biển Đông. Và Việt Nam chỉ có thể bảo vệ mình với sự hỗ trợ của tập thể ASEAN và cộng đồng quốc tế. Ngược lại, ASEAN và quốc tế cần Việt Nam để bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông. Đó có lẽ là cách tiếp cận thực tế và hiệu quả nhất đối với Việt Nam trong bối cảnh tương quan lực lượng của thế giới ngày nay. 
  

Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này