Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học và đời sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học và đời sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014

VN về cơ bản thất bại trong quá trình công nghiệp hóa(*)

(*)Đó là nhận xét của Thomas J. Vallely - người đã từng có mặt tại Việt Nam trong nhiều thời kỳ khác nhau từ thời chiến đến thời bình với những cương vị khác nhau từ người lính đến nghị sĩ - được thể hiện qua cuộc phỏng vấn mới đây do phóng viên Thanh Tuấn của báo Tuổi trẻ (Nguồn: facebook  ngày 4/4l 2014 ). Bách Việt  xin mạn phép đăng lại để làm tài liệu tham khảo.
Hình ảnh chỉ có tính minh họa 

Thomas J. Vallely:VN về cơ bản thất bại trong quá trình công nghiệp hóa

Năm 1985, hạ nghị sĩ bang Massachusetts (Mỹ) Thomas Vallely lần đầu trở lại Việt Nam kể từ sau cuộc chiến với một mục đích riêng. Là cựu lính thuỷ đánh bộ trong chiến tranh, ông muốn làm bộ phim quảng cáo ngắn cho cuộc chạy đua vào Quốc hội Mỹ vào năm sau.
“Khi đó tôi ghét VN, tôi không phải tuýp người yêu VN ngay từ đầu,” Vallely thừa nhận về lần trở lại đầu tiên.

Bộ phim làm thành công nhưng cuộc chạy đua của Vallely thì thất bại. Nhưng lần trở về của ông không phải là vô vọng. Chuyến đi đó gieo lại ông mong muốn được làm gì đó với VN. Một cử chỉ trả ơn mà ông định là tặng học bổng đưa một sinh viên Việt tới trường chính sách Kennedy của ĐH Harvard trở thành khởi đầu của chương trình Việt Nam tại ĐH Harvard. Có mối quan hệ thân thiết với các thượng nghị sĩ từng là cựu binh như John Kerry, John McCain,...ông là người đưa chương trình học bổng Fulbright tới VN từ năm 1992 – một loạt lãnh đạo của VN hiện tại như Nguyễn Thiện Nhân, Phạm Bình Minh, Cao Đức
Phát,...đều là cựu sinh viên của chương trình này. Sau học bổng Fulbright là chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (FETP) mà sau này được nâng cấp thành trường Fulbright và ông cũng là người sáng lập của quỹ học bổng VEF mà mỗi năm quốc hội Mỹ giành cho 5 triệu USD. Song song với các chương trình giáo dục này là các báo cáo về phát triển và tình hình kinh tế VN cho chính phủ mà ông tham gia cùng với các chuyên gia của ĐH Harvard. Chuyến đi ngắn của năm 1985 trở thành khởi đầu của cuộc gắn bó dài tới hơn 27 năm mà khi nhìn lại ông thừa nhận là “không bao giờ nghĩ mình lại gắn bó lâu tới vậy.”

27 năm qua đi, tối 24-3, giải thưởng Phan Châu Trinh lần thứ 8 về văn hoá và giáo dục đã chính thức ghi nhận những đóng góp của Thomas Vallely cho nền giáo dục VN. Giải thưởng ghi nhận ông vì những
đóng góp quan trọng cho giáo dục đại học ở VN. Ở tuổi 87, nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, chủ tịch quỹ Phan Châu Trinh, bước lên sân khấu để trao giải cho ông. Nhà văn Nguyên Ngọc trong diễn văn kết luận ca ngợi ông “sao hiểu VN đến thế, cặn kẽ và sâu sắc đến thế, thấu đáo và cơ bản đến thế, để kiên định suốt gần ba mươi năm” đem đến cho VN hai điều cơ bản nhất: một cuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường đích thực, và một công cuộc cải cách giáo dục thực sự triệt để và căn bản.

Trong lời đáp từ, Vallely nhắc lại về tư tưởng của Phan Châu Trinh về giáo dục là nền tảng của phát triển và nhắc lại “cải cách giáo dục là thách thức lớn nhất ở VN hiện nay” và nếu không cải cách nhanh chóng giáo dục thì VN có nguy cơ không đạt được “tiềm năng to lớn của mình.” Trong bài đáp từ, ông cũng nhắc về “chủ nghĩa ngoại lệ” (tự coi mình đặc biệt) như một thách thức đối với VN. Cuộc trò chuyện của TTCT với ông bắt đầu từ “chủ nghĩa ngoại lệ.”

Thomas Vallely, ông đề cập tới chủ nghĩa ngoại lệ trong bài đáp từ của mình tại lễ trao giải Phan Châu Trinh như là một thách thức lớn đối với giáo dục VN. Xin ông nói rõ hơn về điểm này.

Trong diễn văn tôi đề cập cả chủ nghĩa ngoại lệ của Mỹ (tự coi mình là đặc biệt) và chủ nghĩa ngoại lệ VN và tôi nghĩ từng nước đều có cái chủ nghĩa ngoại lệ của riêng mình. Khi một nước cân nhắc cách thức đổi mới các trường đại học, họ nên nhớ đến những nguyên tắc nền tảng – ví dụ như tự do học thuật, cơ chế tự chủ, cơ chế trách nhiệm đối với xã hội,... – mà được tất cả các trường đại học hàng đầu thế giới cùng chia sẻ. Các nguyên tắc, giá trị này, không giới hạn ở phạm vi khu vực. Điều đó không có nghĩa là các trường đại học không cần để ý tới các điều kiện văn hoá xã hội – đương nhiên là họ cần. Tuy nhiên, các trường đại học tốt nhất thế giới, dù đó là ở Boston, Berlin hay Bắc Kinh đều có những giá trị nền tảng nhất định. Một cách để tránh cái bẫy tư duy ngoại lệ này là phải so sánh mình với các nước khác bằng cách tham gia các chương trình thi cử quốc tế hay phấn đấu để được các tổ chức quốc tế thừa nhận.

Nghị quyết mới của ban chấp hành trung ương về cải cách giáo dục được giáo sư Hoàng Tuỵ, một người phê phán mạnh mẽ những thất bại của nền giáo dục VN, là nghiêm túc và toàn diện nhất trong vài thập kỉ qua. Ông có đồng ý với giáo sư Hoàng Tuỵ về điểm này?

Từ những gì tôi biết thì nghị quyết đó đưa ra chiến lược rất tốt cho giáo dục VN ở mọi cấp độ.

Ông có quan ngại gì về chiến lược mới này?

Trong hơn một thập kỉ qua, VN đã đưa ra một số chính sách, luật và nghị định liên quan tới giáo dục như nghị định 14, luật giáo dục đại học hay gần đây là nghị quyết của Trung ương. Thách thức đối với VN không phải là chuyện diễn giải chính sách nhưng thường là ở chuyện thực hiện các chính sách đã được
thông qua.

Ông đã gắn bó với giáo dục VN hơn hai thập kỉ qua và từng chứng kiến một loạt quyết sách về cải cách giáo dục. Có cái bẫy hay trở ngại nào có thể làm trật một chiến lược tốt? Có điều gì cần cẩn trọng.

Ở VN và các nước đều có xu hướng là thường coi giải pháp với giáo dục đại học là câu chuyện nguồn lực – rằng đầu tư nhiều nguồn lực sẽ dẫn tới kết quả tốt hơn. Trong khi nguồn lực là cần thiết, đó không phải là yếu tố quan trọng duy nhất. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều lần rằng quản trị giáo dục có lẽ là thành tố quan trọng nhất. Và đó cũng là yếu tố mà rất khó đưa ra đúng được trong chính sách giáo đục đại học.

Với đại học Fulbright mà mà ông đang triển khai, có điều gì khiến ông không hài lòng. Tôi biết dự án đã được lãnh đạo hai nước công khai ủng hộ nhưng có vẻ quá trình triển khai vẫn mất thời gian và có những cản trở hành chính?

Kể từ khi đại học Fulbright được công bố trong tuyên bố chung giữa chủ tịch nước Trương Tấn Sang và tổng thống Barack Obama, dự án đã có những tiến bộ đáng khích lệ. Tôi rất vui mừng với sự hỗ trợ mà chúng tôi có được từ phía chính phủ Mỹ và VN. Tuy nhiên, đại học Fulbright là dự án tư nhân và phi lợi nhuận. Điều đó có nghĩa là mặc dù hỗ trợ của chính phủ là quan trọng, thành công cuối cùng của chúng tôi dựa vào chuyện vận động sự hỗ trợ của các cá nhân, các tập đoàn và các tổ chức thiện nguyện ở VN, Mỹ và các nước. Tôi tin là chúng tôi sẽ là được điều này.

Mọi ngườiđã nói nhiều về các vấn đề của hệ thống giáo dục VN: nhuốm màu tiền bạc, thiếu tự do học thuật, quản trị giáo dục kém...và có vẻ càng nghĩ thì càng thấy bế tắc. Có điểm sáng nào mà ông thấy có thể bám víu vào cho thay đổi?

Rõ ràng tài nguyên lớn nhất của VN, trong giáo dục hay trong mọi lĩnh vực khác, là con người VN. Nơi nào trên thế giới tôi đi tôi cũng gặp những sinh viên và chuyên gia VN rất tài năng. Chuyện thành bại của VN trong xây dựng hệ thống giáo dục đại học có thể hỗ trợ cho phát triển kinh tế và chuyển dịch xã hội phụ thuộc vào khả năng chính quyềncó thể thu hút một tỉ lệ những người trẻ tài năng theo đuổi sự nghiệp trong giáo dục đại học. Đặc biệt quan trọng là những người trẻ đang theo đuổi các bằng trên đại học ở nước ngoài. Họ là thế hệ những học giả và nhà khoa học tiếp theo của VN.

Sau chiến tranh, ông bắt đầu ở VN bằng việc thiết lập chương trình Fulbright, rồi sau đó là chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright,quỹ học bổng VEF rồi giờ là ĐH Fulbright. Tầm nhìn của ông với giáo dục VN khi đó và giờ sau hơn 20 năm có gì thay đổi không?

Tôi đã và sẽ luôn tin tưởng vào sức mạnh của việc trao đổi học thuật. Đầu tư vào giáo dục cho con người là đầu tư cho tương lai của đất nước. Cùng lúc, càng làm việc lâu ở khu vực này, tôi càng nhận thấy giới hạn của trao đổi học thuật. Việc chỉ gửi số lượng lớn người đi du học nước ngoài không đảm bảo

chất lượng các cơ sở giáo dục trong nước sẽ tăng lên. Một phần thách thức lớn của cải thiện giáo dục đại học là tạo môi trường để dẫn đến chất lượng học thuật xuất sắc. Đó là điều chúng tôi đang cố làm tại trường Fulbright và là điều chúng tôi sẽ cố làm ở quy mô lớn hơn tại ĐH Fulbright.

Ông có mất niềm tin vào VN? Phải chăng đó là lý do giờ ông tập trung nhiều vào Myanmar hơn là VN?

Tôi học ra một điều từ lâu rằng không bao giờ được đánh giá thấp người VN. Vì lý do đó tôi sẽ không bao giờ mất hi vọng vào VN.

Dường như những gì ông nói có vẻ ngoại giao lịch thiệp quá?

Không tôi tạo nên được sự nghiệp là nhờ chuyện phê phán VN. Không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà cả về kinh tế,...Nếu không có những lời phê phán đó thì tôi không nghĩ chúng tôi có bất
cứ ảnh hưởng gì.

Xin ông nói thêm một vài ví dụ về chủ nghĩa ngoại lệ ông thấy ở VN?

Như tôi nói hôm trước. Tôi lấy ý tưởng về chuyện ngoại lệ từ một bài báo của giáo sư Hoàng Tuỵ miêu tả tại sao ông thấy ngao ngán vô cùng khi nghe chức danh “giáo sư tiến sĩ” ở VN. Theo nghĩa đó, ở VN tạo ra hệ thống riêng về cách quy định giáo sư (ở các nước hàm giáo sư là do các trường phong) mà không làm như thế giới vẫn làm – nói cách khác VN theo cái ngoại lệ tự họ nghĩ ra. Và khi tự bó hẹp trong cái thế giới của mình mà vẫn nghĩ là mình giỏi thì đó chính là biểu hiện của chủ nghĩa ngoại lệ.

Khi tự nghĩ ta có thể tạo ra một nhóm các học giả mà có cái luật lệ riêng của mình mà không nơi nào trên thế giới làm thì đó có nghĩa là chủ nghĩa ngoại lệ. Và VN có hệ thống giáo dục đại học nghĩ mình là ngoại lệ vậy.

Hãy nhìn giáo sư Ngô Bảo Châu và Đàm Thanh Sơn, họ không hề theo chủ nghĩa ngoại lệ. Họ hoà vào với thế giới. Họ đang dạy ở ĐH Chicago – đó là địa hạt của kiến thức thế giới. Hai giáo sư đó không cần chủ nghĩa ngoại lệ và họ nổi tiếng trên toàn thế giới. Chủ nghĩa ngoại lệ là cái cách mình chối bỏ và nói “tôi không muốn làm điều đó.” Tự chối bó và nói tôi không muốn thành Ngô Bảo Châu hay Đàm Thanh Sơn.

Tôi nghĩ là khá phổ biến ở VN mọi người hay tự nghĩ là mình “ngoại lệ.”

Ông đã làm việc ở VN 30 năm rồi ông có nghĩ chuyện đó là mới không?

Anh biết đấy, tôi đang làm ở Myanmar. Và mọi người hỏi tôi sự khác biệt lớn nhất giữa làm việc ở Myanmar với làm việc ở VN là gì.

27 năm trước khi chúng tôi bắt đầu làm việc với giới lãnh đạo VN, họ rất tự hào – điều có thể hiểu được – về chiến tích quân sự và ngoại giao của mình. Họ chiến thắng đế quốc Mỹ, họ thống nhất đất nước,...cái giá rất lớn nhưng họ làm được. Sự hãnh diện đó dẫn tới việc họ thay đổi sang hệ thống hiện đại hơn và tiến hành Đổi mới.

Ở Myanmar câu chuyện trái ngược hoàn toàn. Họ là những thất bại. Hơn 60 năm mà họ không có tăng trưởng kinh tế. Ở đây vẫn là cái chế độ phong kiến và giờ họ đang hi vọng vào cơ hội thứ hai để vươn lên. Một vài người có tư tưởng cải cách ở Myanmar họ không hề tự hào về quá khứ, họ thấy xấu hổ về nó thì đúng hơn.

Khi bạn chiến thắng trong cuộc chiến thứ 2 và thứ 3 ở ĐÔng Dương, bạn có quyền cảm thấy mình “ngoại lệ.”Nhưng không thể để cái suy nghĩ “ngoại lệ” đó chi phối cả hệ thống của bạn rồi giờ dùng nó như là cái lý lẽ để biện minh (cho trì trệ).

Ông có nghĩ là VN đã tới mức mà rơi vào con đường của thất bại – như kiểu Myanmar?

Không. VN phát triển chậm nhưng Myanmar còn phát triển chậm hơn nữa. Trong các báo cáo mà chúng tôi viết cho lãnh đạo VN, chúng tôi nói rõ là VN đang phát triển rất dưới tiềm năng của họ. VN đáng ra phải phát triển từ 8-10%/năm nhưng thực tế thì có lẽ chỉ phát triển ở mức 3%/năm. VN đã tự để mình phát triển chậm vậy, tiếp tục duy trì hỗ trợ cho những công ty và cá nhân hoạt động không hiệu quả.

VN đã không đưa vào khuônkhổ các doanh nghiệp nhà nước, VN đã không kiểm soát giới đại gia. VN để họ tự tung tự tác và điều đó dẫn tới tốc độ tăng trưởng chậm của VN.

Tôi nghĩ thông điệp đầu năm của thủ tướng VN, nếu đọc kỹ anh sẽ thấy đây là lần đầu tiên một chính trị
gia VN nhấn mạnh sự thay đổi của chính trị gắn liền với thành công. Tôi nghĩ là ông ta đúng. Nếu VN không thay đổi sự tham gia của các nhóm trong xã hội thì sẽ khó mà có tăng trưởng nhanh được.

Khi tôi bắt đầu làm việc ở VN hồi năm 1989, mức thu nhập GDP đầu người giữa VN và Trung Quốc tính theo sức mua (PPP) là ngang nhau khoảng 750 USD . Và giờ thì thu nhập đầu người của Trung Quốc hơn gấp đôi VN rồi. GDP đầu người tính theo sức mua (PPP) của họ sắp đạt 9.000 USD/năm còn VN thì giờ là khoảng 3.500 USD (IMF October 2013 World Economic Outlook). VN đã không tổ chức mọi thứ theo cách hiệu quả hơn như cách Trung Quốc, Hàn Quốc hay Đài Loan làm trong giai đoạn công nghiệp hoá.

VN về cơ bản thất bại trong quá trình công nghiệp hoá và giờ đang phải bắt đầu lại. Tôi nghĩ thông điệp
của thủ tướng về cơ bản nói rất rõ “tôi muốn một cơ hội thứ hai.” Và đó là điều tốt (khi ông nói vậy). Tôi khá ngạc nhiên.

Chủ nghĩa ngoại lệ ở đây là: VN không làm như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan đã làm, mà tự làm theo ý VN muốn. Tôi tiếp tục đưa tiền cho những công ty không hiệu quả, tôi không thể kiểm soát giới đại gia, tôi cứ để chuyện quan liêu tiếp tục, tôi không sửa hệ thống giáo dục,...tôi có thể làm bất cứ thứ gì tôi muốn và tôi sẽ vẫn phát triển được như các nước – đáng tiếc là thực tế đã không diễn ra như vậy.  Chủ nghĩa ngoại lệ chỉ cho tôi tăng trưởng 3% trong khi đáng ra tôi phải tăng trưởng 9%.

Trong 30 năm ông gắn liền với nền giáo dục VN, ông có thấy đó là xu hướng đi xuống của hệ thống giáo dục?

Tôi nghĩ tôi từng thấy đà tiến sau khi VN gia nhập WTO. Khi đó ai cũng nghĩ đó là đà để VN bước tới một nền kinh tế tư nhân hơn – sẽ để tư nhân được chi phối quá trình công nghiệp hoá hơn. Nhưng rồi VN lại lo lắng về chuyện đó và chặn lại đà công nghiệp hoá của khối tư nhân.

VN chấp nhận để cho khối doanh nghiệp FDI được phát triển mạnh nhưng với khối phi-FDI thì VN lại đi ngược lại về hệ thống phi kinh tế thị trường trước kia. Đó là điều cần thay đổi vì cách vận hành đó không hiệu quả.

Như anh thấy, khối tư nhân thực tế bị kìm chân lại. Khối ngân hàng lấy tiền rồi cho những người không hề có năng lực, không hiệu quả vay. Đó là điều làm cho kinh tế phát triển chậm. Sự tăng trưởng chậm đã kéo dài ở VN. Trung Quốc đã phát triển tốt hơn VN rất nhiều lần. Trong giai đoạn từ 1989-2014, GDP đầu người của Trung Quốc đã tăng hơn gấp đôi so với VN. Họ kỉ luật hơn trong quá trình công nghiệp hoá và họ ít chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa ngoại lệ.

Tôi nghĩ về nhân sự VN cần một cơ chế như tập đoàn Viettel. Một hệ thống mà bạn có thể sa thải người nếu không hiệu quả. Ở Trung Quốc, nếu giáo sư làm việc không tốt thì anh thôi không được làm giáo sư nữa.

Có điểm nào trong chiến lược giáo dục mới khiến ông chú ý không?

Tôi nhớ nghị quyết 14/2005 của chính phủ về đổi mới giáo dục cuối cùng thì dường như VN chẳng thực hiện nghị quyết đó. Nghị quyết đó cũng tốt nhưng cuối cùng thì VN chẳng làm gì cả. Vấn đề luôn là triển khai chứ những gì họ nói thì đều ổn.

Nếu về nghị quyết có lẽ tôi sẽ viết khác đi về vấn đề nhân lực. Tôi cũng nghĩ là chuyện tự chủ (đại học) là không đủ mà còn cần nói về quản trị giáo dục. về quản trị, ở VN hệ thống quản trị giáo dục vẫn đóng. Chưa có cơ chế mở về lựa chọn hiệu trưởng hay hội đồng lãnh đạo đại học ở VN nhưng không nên lẫn lộn giữa tự chủ và quản trị giáo dục. Giáo dục VN cần sự quản trị giáo dục mới – một sự quản trị mà tạo ra được thành tựu về mặt học thuật. Quản trị giáo dục nên tư duy như kiểu các hãng tư nhân vận hành: hệ thống cũ vận hành không tốt thì nên thay đổi. Ở ĐH Fulbright, chúng tôi sẽ vận hành khác đi.

Từ cái báo cáo về giáo dục đại học năm 2008 mà ông viết cùng với Ben Wilkinson thì các vấn đề đã thay đổi thế nào?

Thực tế thì có rất nhiều người trong Đảng muốn đẩy những ý tưởng chúng tôi đưa ra (trong báo cáo).

Giáo dục thực tế rất giống một hệ thống độc quyền. Nếu anh để các nhóm tư nhân tham gia vào, hệ thống giáo dục sẽ thất bại. Giáo dục không thể là mô hình vì lợi nhuận được. Các đại học ở Mỹ không phải là các trường vì lợi nhuận. Ngay kể cả các đại học tư nhân thì họ cũng không phải vì lợi nhuận. Nếu để kiếm tiền thì anh sẽ chẳng bao giờ có những khoa như vật lý học, anh chẳng thể kiếm tiền bằng việc dạy kịch Shakespeare, không thể kiếm tiền khi anh dạy nhạc, dạy nhân chủng học hay triết học. Thực tế là anh lỗ. Và anh cần nhà nước phải trợ cấp thông qua tiền học hay thông qua các dự án nghiên cứu. Đó là lời khuyên của chúng tôi cho chính phủ VN – đừng dùng hệ thống giáo dục chỉ toàn các tập đoàn tư nhân.

Vậy trường đại học Fulbright sẽ khác thế nào?

ĐH Fulbright là đại học phi lợi nhuận. Chúng tôi không cố kiếm lời bằng trường ĐH Fulbright. Đây sẽ là
đại học phi tư lợi nhuận đầu tiên ở VN mà không phải là công ty. Cái mới ở ĐH Fulbright là chúng tôi không chỉ muốn dừng là ĐH mới tốt nhất ở VN mà chúng tôi muốn một đại học mới tốt nhất trên thế giới.

Chúng tôi không định mang Harvard tới VN mà chúng tôi chỉ muốn dùng hệ thống công nghệ mới cho giáo dục, một đại học hàng đầu ở thế giới đang phát triển.

Trong gần 30 năm vừa rồi, điều gì khiến ông thất vọng nhiều nhất trong quá trình làm việc tại VN?

Tôi vẫn nghĩ VN sẽ thành công hơn thế. VN đã phát triển dưới sức của mình. VN đã có thể, và đến giờ vẫn còn tiềm năng để thành công – nhưng tự các bạn quyết định là không muốn thành công như vậy. Và điều đó làm tôi thất vọng.

Sao ông nói là tự quyết định không muốn thành công?

Khi tôi đọc thông điệp đầunăm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tôi có cảm giác như ông có đọc cuốn sách “Why Nations Fail” (Tại sao quốc gia thất bại). Thông điệp của cuốn sách là các nước phải có những thể chế kinh tế và chính trị có sự tham gia đầy đủ của các đại diện (trong xã hội). Để là một đất nước tăng trưởng nhanh và hùng mạnh, thì cần đủ cả thế chế kinh tế và chính trị mang tính đại diện như vậy.

Đó là điều còn thiếu (tại VN) và quyết định không làm điều đó đồng nghĩa với việc là tự quyết định không
muốn mình thành công. Quyết định đó tiếp tục được lặp lại để tạo ra một sự cân bằng chính trị mà không tạo ra thay đổi. Điều đó không chỉ gây thất vọng cho tôi mà còn gây thất vọng với tất cả những người sống ở đây.

Hệ thống giáo dục VN thì đang khủng hoảng và ông nói về việc xây dựng một trường đại học hàng đầu thế giới. Có vẻ là xa vời quá chăng?

Đó là thách thức rất lớn. Nguồn lực về con người là nguồn lực lớn nhất của VN.
Chúng tôi vẫn nói điều này. Một điều mà ở hệ thống giáo dục VN vẫn còn sự liêm chính chính là cuộc thi
đầu vào ở Đại học. Các ĐH công không phải là tốt nhưng những học sinh giỏi vẫn thi vào đó. Và bài thi đầu vào vẫn còn được đảm bảo (không bị tham nhũng). Chúng tôi sẽ cố tận dụng và khai thác điểm đó – vẫn còn nhiều người trẻ, giỏi đi thi đại học. Chúng tôi sẽ làm điều đó – đến giờ chưa có trường nào tận dụng được điều đó hết. Chúng tôi không phải là xây trường ở một nơi không có gì hết.

Khi tôi ở Mỹ, mọi người cũng suốt ngày tranh cãi về chuyện chất lượng giáo dục rồi đổi mới giáo dục ở đó.

Những trường chất lượng cao nhất ở Mỹ vẫn rất đảm bảo. Những trường ở top 200 ở Mỹ thì chất lượng vẫn rất tốt.

Ông có thấy những tín hiệu tích cực gì ở VN. Như ông nói tín hiệu tích cực trong bài thông điệp của thủ tướng

Tôi có thấy. Tôi nghĩ thông điệp của thủ tướng là rất ấn tượng. Tôi nghĩ điều ông muốn nói là hãy tiếp
tục cuộc đối thoại về hiến pháp đã làm từ năm ngoái. Năm ngoái khi ở VN có làm góp ý về hiến pháp các bạn có hơn 25 triệu ý kiến tham gia góp ý. Tôi nghĩ có xu hướng muốn ủng hộ việc cải cách về quản trị, về điều hành và cuộc tranh luận đó là rất sôi nổi. Tôi nghĩ thủ tướng muốn tiếp tục xu thế đó và muốn duy trì cuộc đối thoại từ năm ngoái – ông thấy những giá trị trong cuộc tranh luận đó và muốn tạo ra sự thay đổi về chính trị và tôi nghĩ đó là thông điệp rất tốt từ một chính trị gia đang tìm cái cơ hội thứ hai cho bản thân.

Một trong những điều đã thay đổi VN chính là nhờ internet. Chính trị VN giờ rất sống động cũng nhờ điều này. Internet thực tế là thành tựu của chính quyền. Chính chính quyền tạo ra sự phát triển sống động của hệ thống viễn thông này.

Tôi có nói về Viettel bởi chính nhờ Viettel mà đã có sự cạnh tranh (trong ngành viễn thông). Khi anh có cạnh tranh, thực tế người Việt thường làm rất tốt – trong khi với hệ thống mệnh lệnh thì anh chỉ phát triển chậm. VN thực tế sẽ giỏi khi đẩy vào môi trường cạnh tranh. VN vẫn còn cơ hội để có thể vào nhóm các nước thành công nhưng VN phải nhanh chân lên.

Mọi người vẫn nói về Myanmar như một điểm sẽ cạnh tranh với VN.

Myanmar là cái nơi hoàn toàn khác. Đó vẫn là chế độ phong kiến ở Myanmar. Chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn phát triển và tốt hơn nhiều. VN sử dụng chế độ toàn trị để đi từ đói nghèo sang một nước có thu nhập trung bình. Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Trung Quốc đều như vậy. Nhưng khi đã lên tới thu nhập trung bình thì phải nghĩ cách làm khác. Và đó là cái chỗ VN đang vướng lúc này. Myanmar thì thậm chí còn chưa tới cái điểm bằng VN khi VN bắt đầu xã hội chủ nghĩa sau 1945.

VN giờ vẫn là đối tượng chi phối trong mô hình Trung Quốc+1. VN vẫn là điểm đổ đến của FDI trong mô
hình Trung Quốc+1. Nhưng giờ nó ở mức giống như là anh có quá nhiều nguồn vốn FDI rồi. VN rơi vào trạng thái “lời nguyền tài nguyên.” Nhưng thay vì có dầu như kiểu Putin, VN lại có vốn FDI và FDI quá nhiều đã che hết nhưng cái xấu và vấn đề ở nội tại VN.

FDI giờ giống dầu. VN làm rất nhiều điều sai nhưng nhiều khi không để ý tới những cái sai đó (vì có FDI
che chắn cho). VN bị rơi vào trạng thái nghiện FDI (giúp che chắn sai lầm) và không chịu thay đổi. Giờ thì thủ tướng VN nói về chuyện kết nối giữa chính trị với thay đổi, nói về nền chính trị với sự đại diện của các nhóm trong xã hội. Đó là điều rất quan trọng.

Thời điểm những năm 80 đó có bao giờ ông nghĩ mình sẽ dính líu với VN lâu tới vậy?

Không, không bao giờ nghĩ là lâu tới vậy. Thực sự thì tôi mừng là sự nghiệp chính trị của tôi thất bại. Tôi thích cái nghiệp này hơn nhiều so với cái nghiệp trong chính trị nếu tôi còn theo đuổi. Nên tôi vẫn hay nói là may là tôi tranh cử thất bại.

 Đó là cái nghiệp thú vị. Tôi được ở cái ghế đầu để chứng kiến những biến chuyển của VN trong thời gian dài: cả những thành công cũng như nhưng yếu kém ở VN. Tôi có cái sự nghiệp khá thú vị ở VN. Nhưng sự thật thì sự nghiệp của tôi ở VN không chỉ đơn thuần là về VN mà về sự phát triển của VN, và quá trình xây dựng một đất nước.

Quan hệ tôi với VN giống như là cái mối quan hệ yêu-ghét. Có khi tôi yêu VN, có khi thì VN khiến tôi muốn phát khùng.

In box:
“Bất kỳ một nền giáo dục đại học có chất lượng nào đều có một số đặc điểm có tính phổ quát, vượt ra khỏi bối cảnh địa phương. Những trường đại học xuất sắc nhất trên thế giới có chung một số thuộc tính cơ bản, trong đó bao gồm tự do học thuật, trọng dụng nhân tài, và minh bạch. Nỗ lực cải thiện giáo dục đại học mà bỏ qua những phẩm chất vô hình này thường không bao giờ đem lại kết quả mong muốn. Các trường đại học nên bắt rễ sâu từ nền văn hóa bản địa, nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu dùng văn hóa bản địa là cái cớ để hạn chế những nguyên tắc cốt lõi của đại học, như tự do học thuật
chẳng hạn.” (trích đáp từ của Thomas J. Vallely)

Chủ Nhật, ngày 02 tháng 2 năm 2014

Nhân đọc bài báo trên Dân trí

Tác giả: Ninh Vũ 

Hình minh họa (của Bách Việt)
Sau khi đọc bài báo trên tờ Dân Trí về PTT-BT NG Nguyễn Mạnh Cầm, có đôi điều muốn viết về báo chí ta. Dân Trí là tờ của Hội Khuyến học có bài viết hay về Chủ tịch hiện nay của Hội, một nhà ngoại giao kỳ cựu của nước nhà. Đây là điều không cần bàn cãi. Chuyện muốn nói là tờ báo mang tên Dân Trí, nhưng cũng hay mắc phải những điều sai, không chính xác. Có thể nói như Táo quân Tự Long thì ai không làm gì thì mới không có lỗi, không sai! Nhưng Dân Trí thì không nên sai, không được sai thì mới góp phần nâng cao dân trí được.

Thứ Ba, ngày 17 tháng 12 năm 2013

Sự khác biệt giữa phương Tây và phương Đông

  

Yang Liu
Tác giả của bộ ảnh này là Yang Liu - nữ nghệ sĩ trẻ người Trung Quốc, hiện sống ở Đức. Từ những trải nghiệm bản thân khi sống giữa hai nền văn hóa, thông qua các cuộc phỏng vấn, kết quả nghiên cứu, Yang Liu đã đưa ra những đúc kết của mình về sự khác nhau cơ bản giữa phương Đông, phương Tây.

"Thực tế mỗi hình đồ họa là kinh nghiệm bản thân trong suốt 13-17 năm qua. Bộ ảnh như một tài liệu cuộc sống của riêng tôi", Yang Liu cho biết. Mặc dù chỉ là bộ ảnh đồ họa mang hơi hướng cá nhân, nhưng những gì Yang Liu truyền tải khiến người xem thực sự thích thú.

Thứ Ba, ngày 10 tháng 12 năm 2013

Lợi ích của việc sử dụng máy tính đối với người cao tuổi


image
Nghiên cứu cho thấy người cao niên sẽ giúp trí nhớ nếu chịu khó lên mạng Internet

Theo kết quả nghiên cứu được trình bày tại cuộc hội thảo thường niên của Hội Society for Neuroscience thì người cao niên có thể thay đổi tình trạng minh mẫn và tránh được bệnh hay quên ngắn hạn của tuổi già nếu chịu khó làm việc tìm tòi trên Internet.

Một toán chuyên gia của đại học Los Angeles đã “scan” não bộ của 24 cụ cao niên (một nửa là những cụ thường xuyên lên internet còn nửa kia thì không) với mục đích tìm xem Internet tác động ra sao lên não bộ các người già.

Thứ Năm, ngày 05 tháng 12 năm 2013

Điều ai cũng biết nhưng ít người tuân theo

Bí mật của tình yêu Brad    Pitt & Angelina Jolie.
Cuối tháng 3/2012, một bức thư đầy tình cảm, được cộng đồng mạng rỉ tai nhau là của Brad Pitt viết tặng người tình Angelina Jolie đã được lan truyền như một "bảo bối" để các cặp vợ chồng hâm nóng tình yêu trong hôn nhân.

Thứ Hai, ngày 02 tháng 12 năm 2013

Người vợ Nhật của Lương Định Của

Tác giả: Phạm Vũ đăng trên Tuổi trẻ

                                                         Vợ chồng ông Lương Định Của tại Hà Nội - Ảnh tư liệu gia đình

Trong căn nhà yên tĩnh đầu một con hẻm trên đường Nguyễn Đình Chiểu (Q.1, TP.HCM), bà Nakamura Nobuko ngồi trước tivi, như mấy chục năm qua, chăm chú theo dõi chương trình thời sự Nhật Bản trên Đài NHK.

Gương mặt nhẹ nhõm, thanh thoát của bà tươi lên khi gặp khách đến thăm, cố gắng chắp nối vài câu tiếng Việt: “Đã hơn hai năm rồi, từ ngày sóng thần 2011, tôi chưa về thăm Nhật Bản, nhưng theo dõi trên tivi cũng biết tất cả tình hình bên đó. Tôi nay đã 91 tuổi rồi, ở VN đến hết đời thôi”. Hỏi bà vì sao lại đến VN, vì sao lại tình nguyện ở đây suốt đời dù vẫn giữ quốc tịch Nhật Bản, bà cười: “Cả ngàn người hỏi tôi vậy rồi, cả các con tôi cũng hỏi. Câu trả lời cách nay 60 năm là: Thuyền theo lái, gái theo chồng. Câu trả lời của hôm nay là: Vì cơn gió thổi từ Hà Nội”. Nói rồi bà lại cười.
Ngày mai sẽ thổi cơn gió riêng
Tháng 10-1945, khi Chiến tranh thế giới thứ hai vừa chấm dứt, cô Nakamura Nobuko 23 tuổi đã gật đầu đồng ý cưới một lưu học sinh VN ở Fukuoka, Nhật Bản. Anh lưu học sinh nghèo đến không có được một món quà cưới tặng vợ ấy sau này trở thành nhà nông học nổi tiếng: giáo sư - tiến sĩ - Anh hùng lao động Lương Định Của.
Bà Nobuko bảo câu ngạn ngữ Nhật Bản mà bà thích nhất là “Ngày mai sẽ thổi cơn gió riêng của nó”, tương ứng với câu “Sau cơn mưa trời lại sáng” của VN. Lạc quan vậy nên bà cứ cười hoài khi xua tay giải thích: “Mọi người bảo Nhật Bản là một nước phát triển, giàu có, còn VN thì nghèo, thời tôi đến lại còn có chiến tranh, sợ tôi vất vả. Nhưng mà không phải vậy đâu. Tôi có vất vả mấy cũng không bằng người nông dân VN, sáng sớm đã phải ra đồng, ngâm chân xuống bùn lạnh buốt, ăn uống thì cực khổ. Người VN lại luôn giúp đỡ tôi. Bên cạnh tôi còn có anh Của, có các con”.
Câu chuyện của bà tràn ngập hình ảnh về ông Lương Định Của, thật khác với những gì người ta thường hình dung về ông giáo sư, viện trưởng đạo mạo, tác giả của những giống lúa năng suất cao, cây ăn trái nổi tiếng. “Anh Của” của bà dí dỏm, dễ gần, luôn đắm trong tình yêu với khoa học và lý tưởng về một xã hội chỉ có những điều tốt đẹp. Người Nhật trọng lễ nghi, phép tắc, đôi khi quá lịch sự mà trở thành xã giao, vậy nhưng chàng thanh niên Lương Định Của lại đến gặp cô gái làm việc trong phòng thí nghiệm trường mình rồi đưa ra một gói giấy: “Xin nhờ chị Nobuko may giúp tôi một cái áo sơmi”. Lần đầu tiên được Nobuko đưa đến nhà mình để nhờ mua giúp lương thực đang rất khan hiếm trong thời điểm chiến tranh, “anh Của” đã ngọt ngào gọi “Cha ơi! Mẹ ơi!” trước sự ngỡ ngàng của cha mẹ Nobuko. Bà Nobuko hôm nay cười thật tươi: “Sau này đến VN, tôi mới biết người miền Nam có tập quán xưng hô thân mật như thế. Nghe anh gọi “mẹ”, mẹ tôi thích lắm, và vì thế mà sau đó ít lâu bà đồng ý gả con gái cho anh sinh viên ấy. Bà còn tự tay đi chợ, nấu ăn cho đám cưới”.
Những ngày mùa thu 1945, ngoài niềm vui vì hạnh phúc riêng tư, ông Lương Định Của còn một niềm vui khác khiến ông như muốn bay lên, đôi mắt sáng loáng lên khi nói với vợ: “Em Nobuko ơi, VN đã được độc lập rồi. VN không còn là thuộc địa nữa. Từ nay trở đi, anh là người của nước VN độc lập, em ạ”. Từ ngày ấy, cơn gió thổi từ Hà Nội đã len vào tổ ấm nhỏ của đôi vợ chồng trẻ, theo họ từ Fukuoka đến Kyoto, Tokyo, từ lúc Lương Định Của còn là sinh viên cho đến khi nhận được danh hiệu bác sĩ nông học danh giá, tạo ra được giống lúa mới hột to, từ khi Nobuko là một cô gái trẻ cho đến lúc cô đã là một bà mẹ với hai con trai nhỏ.
Bà Nakamura Nobuko hạnh phúc ở tuổi 91 tại TP.HCM - Ảnh: T.Trung
Tiếng nói Nhật từ Hà Nội
"Nhớ ngày đầu tiên bước xuống khỏi tàu tập kết vào bãi biển Sầm Sơn, gia đình chủ nhà nấu cơm cho chúng tôi rồi xuống bếp ăn khoai, củ chuối, mùa đông chỉ có cái ổ rơm chống rét. Thương lắm. Bây giờ thì đời sống người dân cũng khá lắm rồi"
Nakamura Nobuko
Ông Lương Định Của đã say sưa nói với vợ về tương lai mới của đất nước, về xã hội tốt đẹp, tất cả vì nhân dân mà Nhà nước VN dân chủ cộng hòa đang tạo lập. Ông từ chối các cơ hội đi làm nghiên cứu sinh ở Mỹ, làm việc cho Viện Nghiên cứu lúa gạo thế giới (IRRI) để tìm cách về nước tham gia kháng chiến. Sau nhiều nỗ lực móc nối, chờ đợi, xoay đường này cách khác, năm 1952 ông đã đưa cả gia đình về Sài Gòn, và đến năm 1954 cả nhà lại cùng lên một chuyến tàu tập kết ra Bắc.
Từ đấy, bà Nobuko đã biết đến nỗi cực khổ của người nông dân VN khi cùng ông Lương Định Của ra khỏi phòng thí nghiệm bước xuống ruộng làm khoa học thực nghiệm, nuôi con gà, con lợn trong sân nhà; biết đến tem phiếu, xếp hàng, thiếu trước hụt sau khi phải chăm sóc đàn con; biết đến hầm trú ẩn, bom đạn rơi sát bên mình trong những năm tháng ở lại Hà Nội để dịch và đọc những bản tin tiếng Nhật tại Đài Tiếng nói VN. Bà đã thay mặt đài viết từng lá thư tay trả lời thính giả Nhật, cảm ơn những lời động viên trong cuộc chiến tranh tàn khốc, giới thiệu những món ăn, những điểm du lịch VN... Tình yêu nước của chồng, những “cơn gió thổi từ Hà Nội” đã thấm vào bà từ bao giờ. Bà Nobuko lặp lại: “Tôi sống ở VN rất dễ chịu. Thời tiết dễ chịu, thức ăn dễ chịu, con người cũng dễ chịu, và cả cách ăn mặc nữa. Tôi rất thích áo dài, vừa nhẹ nhàng, vừa đẹp, lịch lãm, lại vừa dễ mặc”.
Tấm ảnh bà mặc áo dài đứng cạnh chồng chụp mấy mươi năm trước, dịu dàng, nền nã không khác gì một phụ nữ VN. Cầm tấm ảnh, bà lặng đi: “Chỉ tiếc anh Của mất sớm quá, mới 55 tuổi”. Đất nước vừa thống nhất, ông Lương Định Của đã hai lần vào Nam khảo sát để chuẩn bị xây dựng Trung tâm Nông nghiệp miền Nam. Rồi ông bác sĩ nông học hăng say tính chuyện trở về quê hương sinh sống, háo hức vì sắp được phát huy khả năng của mình trên những đồng ruộng mênh mông, màu mỡ của đồng bằng sông Cửu Long. Tháng 12-1975, ông tham dự kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa V, dự định kết thúc thì chuyển vào miền Nam nhận công tác. Chỉ còn hai ngày nữa lên đường, bỗng một đêm ông lên cơn nhồi máu cơ tim. Hôm ấy là ngày 28-12-1975.
Hạnh phúc là ở đây
Hồi ký của bà Nobuko viết: “Tôi luôn tin tưởng là tôi hiểu biết về anh Của nhiều nhất, nhưng chứng kiến cảnh tang lễ, niềm tin này bắt đầu lung lay. Nhiều đoàn cán bộ cao cấp, nhiều cơ quan đoàn thể, đại biểu địa phương, những đoàn dài học sinh, sinh viên, hàng trăm người nông dân đứng xếp hàng trước cổng Bộ Nông lâm nghiệp... Tôi mới hiểu anh với tư cách một người chồng, người cha, chứ chưa hiểu hết những đánh giá về mặt xã hội”.
Đúng là mỗi ngày lại có một cơn gió mới. Với những phát hiện mới về người chồng quá cố, bà Nobuko cùng các con quyết định chuyển vào TP.HCM để được sống trên quê hương ông Lương Định Của, tiếp tục làm việc ở Sở Ngoại vụ, tiếp tục cùng VN vượt qua những thời kỳ từ khó khăn đến đổi mới về kinh tế, đường lối chính sách.
Trong năm người con của bà, có tới ba người theo cha vào ngành nông nghiệp. Trong đó, từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, phục vụ mười năm trong quân đội rồi lại tiếp tục theo nông nghiệp, người con trai cả Lương Hồng Việt bây giờ đã nghỉ hưu, luôn sát vai cùng mẹ Nobuko trên những nẻo đường: về quê cha ở Sóc Trăng lo phần mộ tổ tiên, về Hà Nội mỗi năm để trao Giải thưởng Lương Định Của cho những thanh niên nông thôn xuất sắc, về quê mẹ Nhật Bản để bà vơi nỗi nhớ hoa anh đào...
Nhắc về ông Lương Định Của, bà Nobuko bảo: “Ai cũng nói nếu chúng tôi vẫn cứ ở Nhật Bản thì sẽ giàu có lắm, sự nghiệp của anh cũng rực rỡ hơn về khoa học. Nhưng vật chất không làm nên hạnh phúc. Ở lại Nhật Bản thì anh Của sẽ không thể vui được đâu, vì những “cơn gió thổi từ Hà Nội”. Tôi đến đây, được làm vợ anh 30 năm, hợp nhau tới từng lời nói, như vậy là tôi được ở nấc thang trên cùng của hạnh phúc rồi”. Ông Việt cười tiếp lời: “Nhìn vào câu chuyện cuộc đời của ông bà, lớp con như chúng tôi thì thấy như huyền thoại, đám cháu thì bảo như cổ tích, không thể có được. Cả nhà bảo nhau phấn đấu theo ông bà thôi”.
PHẠM VŨ
Nhà nông học tiên phong
Nhà nông học Lương Định Của sinh năm 1920 tại Đại Ngãi, Long Phú, Sóc Trăng. Ông tốt nghiệp bác sĩ nông học tại Nhật Bản (tương đương học vị tiến sĩ ở VN), cùng vợ con về nước và tập kết ra Bắc năm 1954. Ông nghiên cứu và giảng dạy tại Viện Khảo cứu nông lâm, Trường đại học Nông nghiệp, Viện Nghiên cứu cây lương thực thực phẩm.
Ông là người đi tiên phong trong lĩnh vực khoa học thực nghiệm về nông nghiệp, hướng dẫn nông dân đắp bờ thửa, cấy lúa thẳng hàng để có năng suất cao. Ông là tác giả của nhiều giống lúa với đặc tính phù hợp thổ nhưỡng địa phương, các loại cây trồng: khoai lang, đu đủ, dưa lê, xương rồng, rau muống, dưa hấu không hạt...
Ông được phong tặng Anh hùng lao động năm 1967 và truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1995. Có nhiều con đường, trường học được đặt tên Lương Định Của ở Hà Nội, TP.HCM, Sóc Trăng.
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lập ra Giải thưởng Lương Định Của vào năm 2006, trao tặng hằng năm cho các thanh niên nông thôn có thành tích đặc biệt xuất sắc trong sản xuất, kinh doanh, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, phát triển ngành nghề, bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn mới... Mới đây nhất, tháng 9-2013, lễ trao giải thưởng lần thứ 8 đã tổ chức tại Hà Nội.

Thứ Hai, ngày 25 tháng 11 năm 2013

Tướng Trung Quốc bàn về niềm tin và đạo đức

Có một câu chí lý thế này: Hay bàn luận về khuyết điểm của người khác thì anh là kẻ đạo đức thấp kém. Hay bàn luận về khuyết điểm của nhân loại thì anh là một nhà tư tưởng.
LTS: Lưu Á Châu sinh năm 1952, là con rể cố Chủ tịch nước Trung Quốc Lý Tiên Niệm, có thời là Phó Chính uỷ bộ đội không quân Trung Quốc, nay là Chính uỷ Trường đại học Quốc phòng Trung Quốc, từng là giáo sư thỉnh giảng của ĐH Stanford Mỹ. Ông đồng thời là một nhà văn có tiếng, chủ nhân một số giải thưởng văn học. Các bài viết của ông ngôn từ mạnh dạn, quan điểm mới mẻ (nhất là quan điểm đối với Mỹ), lập luận sắc bén của ông được dư luận rất quan tâm.
Dưới đây là phần lược dịch bài nói ngày 11/9/2002 của ông - Trung tướng không quân Lưu Á Châu, lúc đó là Chính uỷ bộ đội không quân Quân khu Thành Đô Trung Quốc, trước các cán bộ quân đội cấp tiểu đoàn trở lên tại căn cứ không quân Côn Minh, Vân Nam.


Thứ Tư, ngày 30 tháng 10 năm 2013

Cần cấm giới ngoại cảm hành nghề

Lời mãi lộ của chủ blog Bách Việt:  Đây là tiêu đề của một bài báo đăng trên Báo mới.com mà Bách Việt  đang thiếu bài xin được phép copy về "lấp chỗ trống"... Nói vậy cho  phải phép, chứ đây là một trong những chủ đề nóng hiện nay nên tôi muốn "mượn" cách lập luận của TS Đõ Kiên Cường để bổ sung thông tin đến bạn đọc, trong đó có cả một số bạn bè đồng nghiệp cũ mà tôi đã vô tình "đánh mất" khi cách đây hơn một năm đã "trót dại" đăng một tài liệu vạch trần nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng trong vụ dùng mảnh sành và răng lợn rừng thay cho cái thủ cấp còn bị thất lạc của  tướng Phùng Chí Kiên (vì họ cho rằng tôi báng bổ vong linh các anh hùng liệt sĩ !) Từ đó tôi đã sinh ra ý nghĩ rằng, nếu có tình trạng "thánh chiến" trong thế giới Hồi giáo, thì có lẽ cũng có tình trạng thánh chiến trong lĩnh vực mê tín dị đoan ở Việt Nam ta. Hiện tượng lên ngôi của "nghề ngoại cảm" chỉ là một tảng băng nỗi của khối băng chìm mê tín dị đoan ở Việt Nam ngày nay. Hy vọng bài viết này sẽ cung cấp thêm thông tin góp phần hóa giãi tình trạng mê tín dị đoan đang hồi sinh mạnh mẽ tại đất nước này.

Thứ Năm, ngày 10 tháng 10 năm 2013

Một góc nhìn tín ngưỡng (*)

(*) Chủ blog Bách Việt  bắt gặp bài viết dưới đây trong mail-box và nhận thấy nội dung khách quan, lành mạnh đáng tham khảo nên xin mạn phép đưa lại nguyên văn dưới tiêu đề "Góc nhìn tín ngưỡng" để chia sẻ cùng bạn đọc, hy vọng sẽ tác dụng ít nhiều trong hoàn cảnh bộn bề quan niệm tín ngưỡng trong xã hội Việt Nam ngày nay. (Nếu cần bạn đọc có thể lần theo đường link tìm đọc bản gốc)
  TRẠI VÔ THẦN



        Bữa cơm trưa “vô thần” khác hơn bữa cơm trưa “hữu thần” tôn giáo là trước khi ăn người ta hát một bài cám ơn những bàn tay làm nên cuộc sống chứ không có lắng lòng cầu nguyện “ơn trên” đã ban cho vật chất và tinh thần làm nên bữa ăn.

Thứ Sáu, ngày 13 tháng 9 năm 2013

Cẩn thận khi ăn "Nấm Hoàng Tử"

Thông tin dưới đây lấy từ mailbox  chủ blog  chưa kịp kiểm chứng nhưng cảm thấy có cơ sở để tin nên xin mạn phép đưa lại  để ít nhiều cũng có tác dung cảnh báo người tiêu dùng (Bách Việt)
 
Ăn thịt ăn cá thì chết Từ Từ ...

Ăn chay chết lẹ Cấp Kỳ....

Đây là  nấm  " Hoàng Tử"  người VN  cho  là  bổ  béo  lắm,  lại  bị  bọn Tàu  lừa. Chúng  đang  đầu  độc  cả  thế  giớiCác loi nm trng bng hóa cht


image
Đây là các loại nấm ươm ủ bằng hóa chất độc hại bán la liệt tại các chợ Tàu Việt.Nấm cũng từ hóa chất, giá đỗ cũng từ hóa chất. Và 2 loại này được làm thành nhiều loại thức ăn chay ngon miệng!


Thứ Tư, ngày 14 tháng 8 năm 2013

Bệnh nhân cần gì ở thầy thuốc?

Câu hỏi đơn giản này xem ra vẫn rất khó để trả lời một cách thỏa đáng ở Việt Nam nơi mà người xưa đúc kết "Lương y như từ mẫu", nhưng người thời nay lại khuyên "Bệnh nhân phải thông minh!". Nhưng liệu bệnh nhân có thể thông minh được sao?

Thứ Tư, ngày 31 tháng 7 năm 2013

Một lựa chọn khả thi cho đường sắt Bắc - Nam

Lời giới thiệu của chủ blog
Là ngươi quê miền Nam nhưng hầu hết cuộc đời sống và làm việc ở Hà Nội, bản thân tôi và gia đình đã từng  nhiều lần đi Tàu Thống nhất, từ những chuyến tàu nhếch nhác nhất  trong những năm sau 1975 đến những chuyến tàu tuy chưa đẹp và chưa thuận tiện nhưng khá an toàn ngày nay, tôi thấy hoàn toàn đồng cảm với nội dung của bài viết dưới đây của tác giả người Nhật Pi Uy đăng trên báo Asahi Shimbun và được đưa lại trên Dân trí hôm nay.

May mắn thay, sau rất nhiều tranh cãi tại Quốc hội và trong công luận, cái gọi là "Dự án Tàu cao tốc Bắc -Nam " đã tạm hoãn vô thời hạn. Lúc đó tôi nghĩ  "Ông Trời đã cứu Việt Nam khỏi một bàn thua trông thấy!" Và tôi cũng rất lấy làm thú vị khi đường hầm Đèo Hải Vân được khánh thành, nhưng đường sắt vẫn còn chạy trên con đường cũ của nó vắt vẻo trên đĩnh Đèo mà mỗi lần có dịp đi qua tôi vẫn thầm khen là "báu vật" của ngành du lịch Việt Nam chỉ tiếc rằng chưa được khai thác...

Chủ Nhật, ngày 26 tháng 5 năm 2013

Nghề hốt cứt (*)

(*)Vẫn tự hạn chế việc đưa lại tin/bài của người khác lên blog này, nhằm một mặt  tiết kiệm space, một mặt tránh phải giải thích hoặc chú thích dài dòng kẻo bị "hiểu nhầm" phiền toái lắm!  Nhưng hôm nay gặp bài "Làng Cổ Nhuế" trên mailbox thấy hay quá, nhất là đoạn mô tả chuẩn xác đến từng centimét chuyện nghề chuyện nghiệp hót cứt của một làng nghề truyền thống giữa Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến nhưng đang có nguy cơ thất truyền trước trào lưu hiện đại hóa như vũ bảo. Vậy nên tôi xin mạn phép tác giả được đưa lại nguyên văn bài viết đồng thời đặt tên entry là"Nghề hót cứt" để nêu bật tính chuyên đề mà thôi (Bách Việt)   

Thứ Ba, ngày 23 tháng 4 năm 2013

Học thuyết kinh hoàng khiến hàng trăm ngàn người bị giết

Có vô vàn những học thuyết được các nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra. Có những học thuyết đem lại cho nhân loại giá trị to lớn nhưng bên cạnh đó, có những học thuyết mang đến vô vàn hệ lụy đáng sợ. Thuyết ưu sinh là một trong những thuyết như vậy. Đây là một trong những học thuyết gây tranh cãi nhất của thế giới, nó khiến hàng trăm ngàn người bị giết, bị triệt sản, bỏ tù...

Thuyết ưu sinh là gì?
Thuyết ưu sinh (eugenics) là học thuyết nổi tiếng những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Học thuyết cho rằng, các chủng tộc loài người có thể cải tiến bằng cách nhân giống chọn lọc có kiểm soát, tạo ra những đứa trẻ với đặc điểm mong muốn, tính trạng hoàn hảo về sức khỏe, vóc dáng, trí tuệ.
Học thuyết kinh hoàng khiến hàng trăm ngàn người bị giết 1
Người đưa ra học thuyết tranh cãi này là nhà nhân chủng học người Anh - Francis Galton. Ông là em họ của Charles Darwin, tác giả của học thuyết tiến hóa vĩ đại.

Thứ Hai, ngày 25 tháng 3 năm 2013

Bàn về sự ấu trĩ(*)

(*)Đây là một bài viết nhận được trên họp thư bạn bè. Tuy không quen biết tác giả và cũng chưa có đủ điều kiện để kiểm chứng các thông tin trong bài viết, nhưng thấy có thể chia sẻ phần lớn quan niệm nêu trong bài, đồng thời xin được bổ sung thêm một ý sau:
Con người ta không ai vẹn toàn (nhân vô thập toàn), kiến thức lại càng vậy. Do đó,không ai có thể tự coi mình đúng về mọi điều, chẳng qua nếu gặp may rơi vào "xứ của người mù, thì người chột sẽ làm vua" mà thôi! Tuy nhiên, mọi người chỉ có thể trở nên khôn ngoan hơn nếu học hỏi lẫn nhau,kể cả từ sự ngu dốt của người khác, để hoàn thiện bản thân. Trong hoàn cảnh cụ thể của đất nước ta hiện nay có rất nhiều ý kiến trái chiều, nhưng rất ít người chịu lắng nghe lẫn nhau là dấu hiệu không tốt lành. Nếu chỉ nói mà không lắng nghe người khác nói thì tác hại còn nhiều hơn là không nói. Người bình thường làm vậy hại một, người có chức có quyền hoặc địa vị trong xã hội và các cơ quan truyền thông nhà nước làm vậy còn hại hơn nhiều -(Bách Việt).

Minh họa: Khều

Tác gỉa: Giản Tư Trung

Thứ Hai, ngày 18 tháng 3 năm 2013

TQ tung vàng giả ra thị trường thế giới (*)

(*) Thông tin này lấy từ  họp thư trao đổi  giữa bạn bè. Tuy bản thân chủ blog chưa có điều kiện để kiểm chứng đầy đủ nhưng cũng đã thử truy cập các đường link được dẫn và thấy các nguồn tin đều có thật. Vậy xin lưu truyền lại nội dung dưới đây với thiện ý để mọi người cảnh giác !!! (Bách Việt)

Hãy đọc mẫu tin sau cho biết để đề phòng mua lầm hoặc cất lầm vàng giả!
Trung Quốc tung vàng giả ra thị trường quốc tế để lừa đảo và quấy rối kinh tế thế giới
Vàng giả đã được các chuyên gia và các nhà điều tra xác định rõ là do chính phủ Trung Quốc làm ra và họ đã cho tung khối lượng lớn vàng giả vào thị trường các nước để lừa đảo người tiêu dùng và đồng thời để quấy rối kinh tế thế giới. Cả ở thị trường New York và Việt Nam đều lên cơn sốt lo ngại về khối lượng rất lớn vàng giả do Trung Quốc sản xuất và đã đưa vàosử dụng lần này . undefined

Thứ Bảy, ngày 09 tháng 3 năm 2013

Đâu chỉ nhầm cờ

Vụ sách giáo khoa in cờ TQ là một bằng chứng nữa về tình trạng (nếu không nói là "nảo trạng") lẫn lộn bạn/thù, tù mù chiến lược của đất nước ta hiện nay -Xem thêm tại đây: http://trankinhnghi.blogspot.com/2012/12/lan-lon-banthu-tu-mu-chien-luoc.html

Ngay cả khi sự việc đã vỡ lỡ ra rồi mà những người có trách nhiệm vẫn không nhận ra vấn đề lại còn biện bạch, "tiếc của"...chỉ định thay trang nào có lỗi để giữ lại quyễn sách!  Không trách trên cao thì mù mờ kiểu cấp cao, bên dưới thì mù mờ kiểu cấp dưới(?) Vấn đề đâu chỉ ở việc in nhầm lá cờ (?); nó bắt nguồn từ tư duy sai lệch một cách có hệ thống. Hãy nghe ý kiến phân tích mà tôi cho là "chuẩn" của nhà nghiên cứu Phạm Toàn tại đây
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2013/03/130306_pham_toan_sach_in_co_tq.shtml  

Thiết nghĩ, vấn đề không thể khắc phục bằng việc chỉ thay một vài trang sách, mà phải thay toàn bộ cách tư duy của đội ngũ lãnh đạo quản lý,.và không chỉ trong lĩnh vực sách giáo khoa, mà trong toàn bộ hệ thống chính trị-xã hội của đất nước.
   

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 1 năm 2013

Teo dần quyền con người trong Hiến pháp(*)

(*)Đây là một trong nhiều bài viết của ông ban tôi- một nhà khoa học- mà phải thú thật là bài viết nào cũng khiến tôi ngạc nhiên về sự nghiêm chỉnh không thể chê trách vào đâu được cả về nội dung lẫn văn phong. Tôi nghĩ, có lẽ trước khi đưa một chủ đề nào đó lên mặt chữ, tác giả đều đem ra soi kính hiển vi đồng thời đong đếm từng ly từng tí theo đúng phong cách một nhà khoa học (?). Thú thật là, cũng có lẽ vì sự nghiêm chỉnh đó cộng với độ dài của các bài viết nên tôi rất ít khi chịu đăng lại bài của ông ban (!). Nhưng lần này, trong bối cảnh cả nước đang hăng hái thảo luận về sửa đổi Hiến pháp, bản thân tôi vừa đi du lịch dài ngày về, cảm thấy bài viết thật trúng và đúng lúc  nên muốn "ăn theo" nguyên văn bài viết này và với hy vọng bạn đọc sẽ tìm thấy sự bổ ích trong đó(Bách Việt)


Tác giả Hoàng Xuân Phú Thêm chú thích
Trong thời gian qua, nhiều người mong muốn sửa đổi Hiến pháp 1992, để bỏ hoặc thay đổi một số quy định, ví dụ như quy định về quyền lãnh đạo (được hiểu là đương nhiên) của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đối với Nhà nước và xã hội(Điều 4), và quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý (Điều 17–18). Tôi không chia sẻ kỳ vọng đó, bởi không tin rằng giới lãnh đạo hiện nay có thể sớm chấp nhận thay đổi những điều mà họ khẳng định là bất di, bất dịch. Ngược lại, tôi thuộc số những người lo rằng việc sửa đổi Hiến pháp có thể bị lợi dụng để hạn chế hơn nữa quyền con người. Và bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đã cho thấy nỗi lo đó không phải là vô cớ. Thậm chí, không ngờ họ lại có thể đi xa như vậy…
Trong Hiến pháp 1992, thuật ngữ “quyền con người” chỉ được nhắc một lần, tại
Điều 50: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.”
Tức là “quyền con người” được đồng nghĩa với “quyền công dân”. Vậy thì những người đang tạm thời bị tước “quyền công dân” sẽ không còn được hưởng “quyền con người”. Hơn nữa, sau khi định nghĩa “Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” (Điều 49), thì “quyền con người” sẽ không còn được áp dụng cho những người đang tồn tại trên đất Việt Nam, nhưng không hoặc chưa “có quốc tịch Việt Nam”. Điều này cho thấy cách hiểu về “quyền con người” trong Hiến pháp 1992 phiến diện như thế nào.
Một thay đổi dễ nhận thấy trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là “quyền con người” được tách ra, được nhắc tới 8 lần, luôn đi cạnh và được đặt trước “quyền công dân”. Ở chế độ mà giới lãnh đạo vốn rất khó chịu khi nghe nhắc đến “nhân quyền” (tức là “quyền con người”), thì đây là một bước tiến, muộn mằn nhưng có vẫn hơn không.
Một thay đổi nữa, là “quyền công dân” cùng “quyền con người” được đưa từ Chương V (trong Hiến pháp 1992) lên Chương II (trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp). Ở Cộng hòa Liên bang Đức, “quyền con người” được đặt lên vị trí hàng đầu, trong Chương I của Hiến pháp. Ở CHXHCN Việt Nam thì Chương I của Hiến pháp được dành cho “Chế độ chính trị”.“Chính trị” là một cái gì đó rất thiêng liêng, mà cũng rất bí hiểm, và càng bí hiểm thì càng… hữu dụng. Khi muốn đùn đẩy công việc, thì tuyên bố: “Cần có sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị.” Khi muốn làm liều, thì khẳng định: “Vớiquyết tâm chính trị, chắc chắn sẽ làm được.” Còn khi muốn lẩn tránh trách nhiệm của bản thân, thì chỉ cần tỏ chút áy náy và “nhận trách nhiệm chính trị.
Hai thay đổi kể trên là theo hướng tiến bộ, đáng được ghi nhận. Song như vậy thì mới thể hiện rằng quyền con người đã được chú ý hơn. Mà chỉ chú ý thì chưa đủ và cũng chưa chắc đã tốt. Chẳng hạn, nếu bạn được công an chú ý, thì điều đó không hẳn là dấu hiệu hay. Để đánh giá chính xác các thay đổi về quyền con người và quyền công dân, thì phải xem xét các quy định cụ thể.
Bài này không nhằm mục đích đánh giá đầy đủ và toàn diện về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, mà chỉ điểm qua một số ví dụ đáng lưu ý về sự thay đổi tiêu cực hay có thể là tiêu cực, liên quan tới quyền con người và quyền công dân. Hy vọng rằng những nhận xét dưới đây sẽ có ích cho những người đang muốn tham gia góp ý kiến cho bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
Quyền hư quyền ảo
Trong “Chương II: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, xuất hiện một quyền mới (so với Hiến pháp 1992) là:
Điều 21: Mọi người có quyền sống.”
Nghĩ một cách dân dã, thì thấy điều này có vẻ ngồ ngộ. “Quyền sống” còn hiển nhiên hơn cả “quyền ăn ngủ”, bởi muốn“ăn ngủ” thì tất nhiên phải “sống”. Vậy mà nếu hiến định rằng “Mọi người có quyền ăn ngủ” thì ai nấy đã thấy ngây ngô.
Thực ra, câu “Mọi người có quyền sống cũng xuất hiện trong Hiến pháp của một số nước, chẳng hạn tại Điều 2 củaHiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức (Jeder hat das Recht auf Leben). Điều đó chứa đựng một nội dung rất quan trọng, mà hệ quả trực tiếp của nó là: Không thể có án tử hình, vì tử hình một người là xâm phạm “quyền sống” của người đó.
Chấp nhận án tử hình hay không là một vấn đề nan giải, vẫn còn đang được tranh luận ở nhiều nơi trên thế giới. Nhiều nước vẫn duy trì án tử hình, như Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
Liệu có thật là nhà cầm quyền Việt Nam muốn hủy bỏ án tử hình hay không? Nếu đúng là họ muốn hủy bỏ án tử hình, thì đây là một thay đổi rất quan trọng. Còn ngược lại, nếu họ vẫn định tiếp tục duy trì án tử hình, thì Điều 21 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp vừa thừa, vừa giả dối, và chỉ chất to thêm đống quyền hữu danh vô thực trong Hiến pháp mà thôi.
Một quyền mới khác trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp là:
Điều 35: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội.”
Điều này được sửa đổi từ Điều 67 của Hiến pháp 1992, quy định rằng:
“Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định.”
“Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc.”
“Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ.”
Nghĩa là:
-       Chỉ đề cập đến một số đối tượng đặc biệt, đó là thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước, người già, người tàn tật và trẻ mồ côi;
-       Chỉ hứa hẹn một cách chung chung, là “được hưởng các chính sách ưu đãi”, “được tạo điều kiện”, “được khen thưởng, chăm sóc”, “được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”;
-       Chỉ đề cập đến mấy nội dung cụ thể, là “phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định”, và những thứ đó chỉ dành riêng cho đối tượng thương binh.
Điều 35 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã đưa ra những bước đại nhảy vọt so với Điều 67 của Hiến pháp 1992, đó là:
-       Áp dụng cho mọi công dân;
-       Không chỉ là hứa hẹn chung chung, mà nâng lên thành “quyền được bảo đảm”;
-       Nội dung “được bảo đảm” không chỉ dừng lại ở mấy nội dung cụ thể, mà bao trùm lên toàn bộ “an sinh xã hội”.
Đây là một ý tưởng cách mạng vĩ đại, nếu họ thực tâm muốn triển khai. Tiếc rằng, nếu thực tâm thì ngây ngô, và nếu không ngây ngô thì không thể thực tâm.
“Quyền được bảo đảm an sinh xã hội là một thứ quyền vu vơ và hoàn toàn không khả thi. Thời gian qua, mới chỉ tập trung cho một số đối tượng rất chọn lọc và chỉ dừng lại ở mấy chế độ phúc lợi rất khiêm tốn, thế mà còn chưa làm tốt nổi. Vậy thì sao có thể bảo đảm an sinh xã hội cho mọi công dân? Lưu ý rằng chế độ “an sinh xã hội” bao gồm cả chăm sóc về y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất. Lấy đâu ra tiền của để thực hiện “ý tưởng cách mạng vĩ đại” ấy?
“Công dân có quyền được bảo đảm”, nhưng ai, cơ quan hay tổ chức nào phải đứng ra “bảo đảm”? Phải chăng cuối cùng họ sẽ phán rằng Dân phải “tự bảo đảm”?
Trong thời buổi tham nhũng hoành hành từ trên xuống dưới, thì những chính sách viển vông không chỉ vô ích, mà còn rất tai hại, vì giới cầm quyền sẽ “mượn gió bẻ măng”. Điều này đang diễn ra dưới nhiều danh nghĩa, ví dụ như việc xâynhà ở xịn để bán cho người nghèo ở giữa đô thị đắt đỏ. Khi đã đẻ ra một chính sách phúc lợi xã hội nào đó thì họ có cớ để vung tiền từ ngân sách, tức là tiền của Dân. Tất nhiên là không đủ để “ngập tràn thiên hạ”. Lúc đó, “nước có quyền chảy vào chỗ trũng”, nghĩa là ưu tiên cho “người thân” (theo nghĩa rộng, bao gồm cả những người quen thân vì tiền), và cũng không quên phần mình. Đối với các quan tham, “từ thiện” không còn là mục tiêu hành động, mà là phương tiện để vơ vét cho bản thân.
Hai ví dụ kể trên cho thấy rằng: Dự thảo sửa đổi Hiến pháp có thể đem lại cho người dân một số quyền mới nào đó, nhưng có khi lại là những quyền hư ảo, trong khi những quyền bị cắt giảm thì lại rất thật, như sẽ trình bày trong phần tiếp theo. Điều đáng buồn là: Xu hướng giả dối vẫn được tiếp tục duy trì và phát triển trong việc xây dựng Hiến pháp.
Quyền thoi quyền thóp
Trong Điều 71 của Hiến pháp 1992 có quy định rằng:
“Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.” (Điều 71, Đoạn 2)
Điều 71 được sửa thành Điều 22 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng toàn bộ quy định được trích ở trên (nhằm hạn chế việc bắt người tùy tiện và yêu cầu bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật) đã bị xóa. Trong thời gian qua, Hiến pháp đã quy định rõ ràng như vậy mà công an vẫn bắt người và giam giữ rất tùy tiện. Rồi đây, khi quy định ấy đã bị gạch khỏi Hiến pháp, thì số phận người dân sẽ ra sao?
Trong Điều 74 của Hiến pháp 1992 có quy định rằng:
“Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.”(Điều 74, Đoạn 2)
Điều 74 được sửa thành Điều 31 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng quy định vừa được trích (nhằm ràng buộc về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo) không còn nữa. Vốn dĩ, khiếu nại và tố cáo của công dân hay bị ngâm tôm bất tận. Đến đại công thần của chế độ gửi kiến nghị cũng chẳng được hồi âm. Vậy thì sau này, khi ràng buộc về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo bị xóa khỏi Hiến pháp, Dân sẽ phải chờ đợi bao lâu?
Đoạn thứ nhất trong Điều 72 của Hiến pháp 1992 viết rằng:
“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.”
Khi điều khoản trên hóa thân vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp, 5 chữ và phải chịu hình phạt” bị loại bỏ. Thành thử chỉ còn sót lại như sau:
“Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.” (Điều 32, Khoản 1)
Hệ quả kéo theo là: “Khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” thì “không ai bị coi là có tội”, song vẫn có thể “phải chịu hình phạt”. Ở các nước văn minh thì hiển nhiên không ai “phải chịu hình phạt” khi chưa “bị coi là có tội”. Nhưng ở xứ sở bất an, nơi khi được công an “mời vào” đồn thì vẫn còn mạnh khỏe, mà lúc “tiễn ra” có thể đã liêu xiêu, thậm chí có trường hợp trở thành xác không hồn, thì việc triệt tiêu 5 chữ và phải chịu hình phạt” sẽ giúp cho công an nhân dân thêm vô tư “luyện võ” với Nhân dân.
Đoạn thứ hai trong Điều 72 của Hiến pháp 1992 viết rằng:
“Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.”
Trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, quy định này được sửa thành:
“Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.” (Điều 32, Khoản 4)
Nghĩa là: Từ “giam giữ” được thay bằng “tạm giữ, tạm giam”. Hậu quả là: Khi đã kết án tù giam và chuyển từ trạng thái“tạm giữ, tạm giam” sang hình thức “giam giữ” để chấp hành án, thì người tù không còn được bảo vệ và người coi tùlàm trái pháp luật không còn bị xử lý theo quy định của điều khoản sửa đổi.
Ba nội dung bị loại bỏ được đề cập ở trên đều có chung một “tội” là: Chúng hay để Dân níu bám, nhằm tố cáo chính quyền vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Có lẽ vì vậy nên phải “kết liễu” chúng, đẩy chúng ra khỏi Hiến pháp, để… giữ gìn uy tín cho chính quyền. Ngoài ra, hai quy định sau đây cũng đã bị loại bỏ khỏi dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
Điều 64 về hôn nhân và gia đình trong Hiến pháp 1992 được sửa thành Điều 39 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng lại bỏ đi đoạn quy định về trách nhiệm nuôi dạy con của cha mẹ và trách nhiệm chăm sóc ông bà, cha mẹ của con cháu. Điều đó cũng có nghĩa là bỏ đi quyền của con cái được cha mẹ nuôi dạy và quyền của ông bà, cha mẹ được con cháu chăm sóc.
Điều 59 của Hiến pháp 1992 được sửa thành Điều 42 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng bỏ đi quy định:
“Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.”
Và nó được thay bằng một quy định chung chung trong Điều 66:
“Nhà nước… quy định phổ cập giáo dục; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý…”
Vậy là, theo dự thảo sửa đổi Hiến phápbậc tiểu học không còn hiển nhiên được miễn học phí.
Quyền treo trên lửa
Loài người từ khi sinh ra đã tồn tại và phát triển nhờ biết lợi dụng. Ban đầu thì sống nhờ săn bắt và hái lượm, tức là lợi dụng rừng và biển. Rồi tiến hành trồng cấy, tức là lợi dụng đất đai và ánh sáng mặt trời. Từ vận chuyển hàng hóa trên sông đến ngăn đập tạo ra thủy điện đều là lợi dụng sức nước. Từ căng buồm ra khơi đến tạo ra phong điện đều là lợi dụng sức gió
Đảng Cộng sản Đông Dương đã lợi dụng thời cơ, khi phát xít Nhật bị quân đồng minh đánh bại và chính quyền thuộc địa Pháp chưa kịp hồi sinh, để cướp chính quyền. Trong những năm tháng hoạt động bí mật, đảng đã lợi dụng sự cưu mang, giúp đỡ và che chở của những người giàu có, để rồi khi chiếm được chính quyền lại đem bao ân nhân ra đấu tố… trong cải cách ruộng đất. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng Lao động Việt Nam cũng đã lợi dụng tính mạng và của cải của Nhân dân cùng với sự ủng hộ của bạn bè quốc tế để giành thắng lợi.
“Lợi dụng” thuộc vào bản năng sống và hành động của con người. Vậy thì việc “lợi dụng” có gì sai? Lợi dụng điều kiện thuận lợi không thể bị coi là xấu, mà không lợi dụng điều kiện thuận lợi cũng chẳng phải là điều đáng để ngợi ca.
Trong các nhà nước pháp quyền, hoạt động của toàn xã hội được điều tiết bằng pháp luật. Xã hội càng văn minh, càng đa dạng thì hệ thống pháp luật càng cồng kềnh và phức tạp. Dù cố gắng đến đâu đi nữa, thì vẫn luôn tồn tại những kẽ hở pháp lý và những quy định chồng chéo. Khi có kẽ hở thì công dân có quyền lách qua mà không hề vi phạm pháp luật. Khi tồn tại nhiều điều khoản chồng chéo, với những quy định khác nhau có thể áp dụng cho cùng một vụ việc, thì đương sự có quyền áp dụng điều khoản có lợi nhất cho mình. Vì vậy, ở một số nước phát triển cao vẫn công khai bày bán những cuốn sách về các mẹo tính thuế để giảm thuế. Những hành động như vậy không phải là tội lỗi, mà hoàn toàn hợp pháp.
Ấy vậy mà ở CHXHCN Việt Nam lại có một loại tội gọi là “tội lợi dụng…”. Kỳ khôi nhất là “tội lợi dụng sơ hở của pháp luật…”. Nếu cần xử lý, thì trước hết phải xử lý những người đã tiêu tốn tiền của Dân mà tạo ra sơ hở pháp luật, chứ sao lại dồn hết trách nhiệm lên đầu những người lợi dụng sơ hở đó? Kiểu quy tội này cũng “hợp lý” như việc quan phụ mẫu mặc quần thủng… lên công đường, rồi lại phạt dân đen vì tội nhìn vào chỗ thủng.
Hiến pháp 1992 có hai điều khoản “cấm lợi dụng”:
“Không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.” (Điều 70, Đoạn 3)
“Nghiêm cấm việc… lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.” (Điều 74, Đoạn 4)
Điều gì đáng nói ở đây? Như đã phân tích ở trên, riêng hành động “lợi dụng” thì không thể coi là tội, và vì vậy không thểcấm. Để mô tả những thứ cần cấm và có thể cấm trong hai điều khoản kể trên, thì chỉ cần viết gọn lại như sau là đã quá đủ:
“Không ai được… làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.”
“Nghiêm cấm việc… vu khống, vu cáo làm hại người khác.”
Nghĩa là bỏ đi hai đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo. Khi vi phạm các điều cấm vừa viết, thì dù “lợi dụng…” hay không cũng chẳng làm cho tội nặng lên hay nhẹ đi. Tức là, xét về mặt lô-gíc thuần túy thì các đoạn “lợi dụng…” là hoàn toàn thừa.
Vậy thì, tại sao nhà cầm quyền vẫn cố tình cài thêm các đoạn “lợi dụng…” vào các điều khoản ấy?
Phải chăng, đó là thủ đoạn pháp lý, nhằm hạn chế và cản trở những quyền con người và quyền công dân được gán sau từ “lợi dụng”?
Chắc hẳn, mục tiêu mà họ nhắm tới là ngăn cản việc thực thi các quyền đó, chứ không phải những cái gọi là vi phạm, mà họ bám vào để kết tội. Từ “lợi dụng” bị lạm dụng để bắc cầu, nhằm kết nối các quyền con người với các tội, để kiếm cớ phủ định các quyền chính đáng, rồi trấn áp và trừng trị những người thực thi các quyền đó.
Ví dụ: Nếu ai đó thực thi “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” (được quy định tại đoạn thứ nhất trong Điều 70 của Hiến pháp 1992), mà nhà cầm quyền không ưng, thì họ sẽ gán cho cái nhãn làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Rồi dùng từ “lợi dụng” để bắc cầu tín ngưỡng, tôn giáo” với cái vi phạm được ngụy tạo đó. Kết quả thu được là tội lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Vậy là có thể vận dụng đoạn thứ ba trong Điều 70 của Hiến pháp 1992 và hệ quả của nó trong Bộ luật Hình sự (Điều 258) để trừng trị.
Điều 70 và Điều 74 của Hiến pháp 1992 được sửa đổi thành Điều 25 và Điều 31 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, trong đó vẫn duy trì hai khoản “cấm lợi dụng”:
“Không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.” (Điều 25, Khoản 3)
“Nghiêm cấm việc… lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.” (Điều 31, Khoản 3)
Đi xa hơn nữa, họ còn đưa thêm một điều khoản “cấm lợi dụng” hoàn toàn mới vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp:
“Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.” (Điều 16, Khoản 2)
Với bảo bối vạn năng này, tất cả các quyền con người và quyền công dân đều có thể bị cản trở. Cái nhãn xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” thì quá bao la và có thể dễ dàng ngụy tạo. Trên thực tế, họ cũng chẳng cần phải mất công tìm kiếm hay bày đặt chứng cớ, mà chỉ cần nhắm mắt đưa ra kết luận mang tính quy chụp.
Những ai đã từng trực tiếp chứng kiến các cuộc biểu tình yêu nước, phản đối hành động gây hấn của “bạn 16 chữ vàng”, diễn ra tại Hà Nội vào hai mùa hè 2011 và 2012, thì đều có thể nhận thấy rằng: Những người tham gia biểu tình rất ôn hòa và luôn chú ý giữ gìn trật tự công cộng, để công an không có cớ trấn áp. Nếu có hỗn loạn thì lại do chính những người mang danh lực lượng giữ gìn an ninh và trật tự cố ý gây ra. Thế nhưng, nhà cầm quyền vẫn vu cho những người biểu tình tội gây rối trật tự công cộng để đàn áp. Đó là một trong những thủ đoạn đã được áp dụng trên thực tế để cản trở và trấn áp công dân thực thi quyền tự do biểu tình.
Chưa hài lòng với cái lưới tà ma bao trùm kể trên, họ còn bổ sung một điều khoản “cấm lợi dụng” sau đây vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp:
“Nghiêm cấm hành vi lợi dụng hoạt động văn hóa, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, truyền bá tư tưởng, xuất bản phẩm và các hình thức khác có nội dung phản động, đồi trụy, mê tín, dị đoan.” (Điều 64, Khoản 4)
Với quy định này, nhà cầm quyền có thêm phương tiện pháp lý để cản trở quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí
Thủ đoạn lợi dụng… từ “lợi dụng” để biến những hoạt động chính đáng và hợp pháp của công dân thành tội lỗi là như vậy.
Quyền nằm dưới dao
Hiến pháp 1992 có một điều rất đặc biệt, đó là:
Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”
Đặc biệt ở chỗ nào? Nó quy định 6 quyền cơ bản của công dân, nhưng… trên thực tế thì tất cả 6 quyền ấy đều bị nhà cầm quyền cản trở.
Ví dụ điển hình là quyền biểu tình. Với ràng buộc “theo quy định của pháp luật”, nhà cầm quyền có thể thông qua Quốc hội để ban hành luật, nhằm hạn chế quyền biểu tình trong một khuôn khổ nào đó. Nhưng hàng chục năm trôi qua, vẫn không xuất hiện một luật nào liên quan đến biểu tình. Nhiều người, kể cả giới cầm quyền, nhầm tưởng rằng: Khi chưa có luật về biểu tình thì công dân chưa được phép biểu tình. Nhưng bài “Quyền biểu tình của công dân” đã chỉ ra rằng: Theo Hiến pháp hiện hành thì công dân luôn luôn có quyền biểu tình. Nếu đã có luật về biểu tình thì công dân phải tuân theo ràng buộc của luật đó. Khi chưa có luật về biểu tình thì công dân càng có quyền biểu tình, và quyền ấy không bị hạn chế bởi pháp luật, tức là càng tự do.
Điều 4 của Hiến pháp 1992 quy định rằng:
“Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”
Căn cứ vào điều khoản này thì có thể nói rằng: Việc công dân biểu tình khi chưa có luật về biểu tình còn chính đáng và hợp pháp hơn so với việc ĐCSVN hoạt động khi chưa có luật quy định về khuôn khổ hoạt động của đảng. Tại sao lạichính đáng và hợp pháp hơn? Bởì vì “Nhà nước chỉ được làm những điều pháp luật cho phép, còn Nhân dân được làm tất cả những điều pháp luật không cấm.” Nhà nước được hiểu là “một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị, được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình”, nên ràng buộc kể trên đối với Nhà nước cũng có hiệu lực cho ĐCSVN. Hơn nữa, như ông Nguyễn Trung đã nhận định, Đảng mới là nhà nước đích thực: Nhà nước đảng trị.”  Rõ ràng, Hiến pháp hiện hành không hề đề cập đến khuôn khổ hoạt động của đảng và cũng chưa có luật nào quy định về khuôn khổ đó, cho nên đảng cũng chưa có được những điều pháp luật cho phép” để mà “được làm”, để mà “hoạt động”. Trong khi đó, quyền biểu tình của công dân được minh định trong Hiến pháp hiện hành và chưa có luật nào hạn chế quyền ấy, nên hiển nhiên là công dân có quyền biểu tình không hạn chế.
Để ngăn cản và đàn áp biểu tình, chính quyền thường viện dẫn Nghị định Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng số 38/2005/NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA (hướng dẫn thi hành nghị định đó). Nhưng bài Lực cản Nhà nước pháp quyền đã chỉ ra rằng:
-       Nghị định số 38/2005/NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA vi phạm Hiến pháp và pháp luật;
-       Chính phủ không có quyền ban hành nghị định để hạn chế quyền công dân;
-       Dù bỏ qua hai khía cạnh vừa kể, thì lời văn của hai văn bản ấy cũng không cho phép áp dụng chúng để cản trở biểu tình yêu nước, như những cuộc biểu tình ôn hòa đã diễn ra ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong hai năm 2011 và 2012.
Hẳn nhà cầm quyền đã nhận ra rằng: Hiến pháp và pháp luật hiện hành không cho phép họ cản trở quyền biểu tình của công dân. Ban hành luật về biểu tình thì họ hoàn toàn không muốn, vì dù quy định ngặt nghèo đến đâu đi nữa thì vẫn sẽ “lọt lưới” một số cuộc biểu tình. Vậy phải làm thế nào bây giờ?
Lợi dụng thời cơ sửa đổi Hiến pháp, họ đã sửa Điều 69 của Hiến pháp 1992 như sau:
Điều 26: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”
Điều gì thay đổi ở đây? Họ đã xóa hai từ “có quyền” trước đoạn được thông tin” và trước đoạn ”hội họp, lập hội, biểu tình”. Đồng thời, họ dùng chữ “được” (vốn dĩ chỉ là một thành phần của từ được thông tin”) thay cho hai từ “có quyền”ấy.  Để làm gì? Để xóa bỏ những quyền cơ bản đó của công dân. Từ chỗ công dân luôn “có quyền” (kể cả khi không có luật hoặc chưa có luật liên quan), bây giờ bị tước “quyền”và “quyền” bị hạ cấp xuống thành những thứ “được” ban phát. Mà được… theo quy định của pháp luật” thì cũng có nghĩa là chỉ được… theo quy định của pháp luật”. Tức là công dân “chỉ được” ban phát nếu nhà cầm quyền đã ban hành quy định của pháp luật”. Khi nhà cầm quyền chưa muốn, lờ đi việc ban hành quy định của pháp luật”, thì Dân sẽ không được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”.
Đây là một thủ đoạn pháp lý tinh vi, nhằm tước đoạt quyền được thông tin và các quyền hội họp, lập hội và biểu tình của công dân.
Một điều khoản khác rất đáng lưu ý trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là:
“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.” (Điều 15, Khoản 2)
Điều khoản này là một sáng tạo pháp lý mới mẻ của các nhà lập hiến CHXHCN Việt Nam. Chữ “chỉ” tạo ra ảo tưởng rằng: Điều khoản này nhằm hạn chế những hoàn cảnh mà quyền con người và quyền công dân có thể bị giới hạn, tức làđể bảo vệ các quyền đó. Thế nhưng hậu quả của nó thì ngược lại.
Vốn dĩ, việc “quyền con người, quyền công dân có thể bị giới hạn” không hề được đề cập đến trong Hiến pháp 1992. Nay điều này được nêu đích danh trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhằm hiến định hóa việc chính quyền có thể giới hạnquyền con người và quyền công dân.
Danh sách “lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng” rộng đến mức có thể bao trùm mọi hoàn cảnh thông thường. Cho nên, nhà cầm quyền luôn có thể viện dẫn những lý do đó, nhằm giới hạn quyền con người và quyền công dân, bất cứ lúc nào mà họ muốn. Vì vậy, việc nhét chữ “chỉ” vào điều khoản ấychẳng hề có tác dụng hạn chế phạm vi hành động của giới cầm quyền, mà chỉ ngụy trang, che đậy mục đích hiến định hóa ấy mà thôi.
Điều khoản kể trên quy định rằng ”quyền con người, quyền công dân… có thể bị giới hạn”, nhưng lại không viết rõ ai và cấp nào có quyền giới hạn. Điều đó mở đường cho bộ máy cầm quyền các cấp có thể can thiệp tùy tiện vào quyền con người và quyền công dân.
Như vậy, Điều 15, Khoản 2 cũng là một thủ đoạn pháp lý tinh vi, nhằm thu hẹp quyền con người và quyền công dân.
Hai ví dụ kể trên nhắc nhở mọi người phải hết sức cảnh giác với những bẫy pháp lý đã được cài trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
Giữ chút quyền Dân
Trong tham luận trình bày tại phiên họp Quốc hội vào buổi sáng ngày 16/11/2012, Luật sư Trương Trọng Nghĩa (Đại biểu Quốc hội khóa XIII của Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam) đã đề nghị một quan điểm, một nguyên tắc, đó là:
Thành tựu của Hiến pháp 1992 cần được bảo vệ và tiếp tục phát huy, đặc biệt nguyên tắc Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, phát huy các quyền tự do cơ bản của nhân dân trên mọi mặt. Do đó, chỉ nên sửa đổi Hiến pháp 1992 nếu phát huy hơn nữa các quyền tự do, dân chủ, chú trọng đổi mới đồng bộ chính trị và kinh tế, nhờ thế tạo động lực mạnh mẽ hơn cho giai đoạn cách mạng mới. Nếu không làm được như vậy thì không nên sửa lặt vặt.”
Tiếc rằng, đề nghị hợp lý và sáng suốt này chưa được phản ảnh đúng mức trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.Không phát huy hơn nữa các quyền tự do, dân chủ”, như Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa đề nghị, mà ngược lại,dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã cắt giảm nghiêm trọng quyền con người và quyền công dân.
Dân không quan tâm nhiều đến việc ghế lãnh đạo được hoán vị ra sao và quyền lực được chia lại thế nào. Họ đủ thông minh để hiểu rằng: Những tiến bộ được tung hô, như việc bỏ hiến định về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, có thể là một bước tiến trong tư duy của giới lãnh đạo và giới lý luận, nhưng sẽ chẳng tác động mấy đến thực tế cuộc sống. Khi không còn được gán cho vai trò chủ đạo, thì thành phần kinh tế nhà nước sẽ được giũ bớt trách nhiệm đối với nền kinh tế quốc dân, nhưng lại vẫn tiếp tục được hưởng mọi sự o bế và ưu tiên. Đó là lãnh địa lý tưởng cho tham nhũng, là đại lộ thông thoáng để tuồn tài sản toàn dân vào túi các quan tham.
Dân quan tâm nhất là các quyền lợi thiết thân, trong đó có quyền sở hữu đất đai.
Như đã trao đổi trong bài “Hai tử huyệt của chế độ”, quy định trong Hiến pháp 1992 về quyền lãnh đạo mặc nhiên của ĐCSVN (Điều 4) và đất đai thuộc sở hữu toàn dân (Điều 17) là hai vấn đề tồn tại then chốt. Chúng phải được khắc phục sớm, vì Dân, vì Nước và cũng vì chính ĐCSVN. Thế nhưng, hai quy định này vẫn được dự thảo sửa đổi Hiến pháp bảo lưu, trong khi quyền con người và quyền công dân lại bị thu hẹp đáng kể.
Đối với Dân, Hiến pháp kiểu này có thể trở thành bãi mìn pháp lý. Nếu dự thảo như vậy được thông qua, thì Hiến pháp có thể không còn là khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của Nhà nước và xã hội, mà trở thành cái gông cùm Nhân dân và Dân tộc.
Chất lượng dự thảo sửa đổi Hiến pháp thể hiện cái tâm và tầm của các tác giả, không chỉ bao gồm những người trực tiếp tham gia soạn thảo, mà kể cả những vị ngồi trên cao để chỉ đạo và áp đặt. Nếu chỉ hạn chế về tầm, tức là do trình độ hay do sơ suất, thì Nhân dân có thể góp ý để bù lại. Nhưng những ví dụ được đề cập ở trên cho ta ấn tượng là: Những thay đổi theo hướng tiêu cực trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã được tiến hành một cách có chủ ý và được tính toán kỹ lưỡng. Thậm chí, họ đã vận dụng cả những thủ thuật và thủ đoạn pháp lý tinh vi để thực hiện và che đậy mục đích đó. Khitâm đã như vậy, thì liệu việc góp ý của Nhân dân có đủ để lay chuyển được quyết tâm sắt đá của họ hay không?Thật khó mà tin rằng họ có thể sữa chữa bản dự thảo để đưa ra một Hiến pháp thực sự tử tế với Dân.
Vì vậy, để bảo vệ quyền con người và quyền công dân, thì nên tạm dừng việc sửa đổi Hiến pháp 1992. Hãy đợi đến một thời điểm thuận lợi hơn, khi tầm đã đủ cao và tâm đã đủ ổn, rồi hãy thay đổi Hiến pháp một cách căn bản, theo chiều hướng tiến bộ, để có được một bản Hiến pháp thể hiện ý nguyện của Dân, do Dân và vì Dân.
Hà Nội, 15/01/2013
Nguồn: Blog Hoàng Xuân Phú




Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này