Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014

VN về cơ bản thất bại trong quá trình công nghiệp hóa(*)

(*)Đó là nhận xét của Thomas J. Vallely - người đã từng có mặt tại Việt Nam trong nhiều thời kỳ khác nhau từ thời chiến đến thời bình với những cương vị khác nhau từ người lính đến nghị sĩ - được thể hiện qua cuộc phỏng vấn mới đây do phóng viên Thanh Tuấn của báo Tuổi trẻ (Nguồn: facebook  ngày 4/4l 2014 ). Bách Việt  xin mạn phép đăng lại để làm tài liệu tham khảo.
Hình ảnh chỉ có tính minh họa 

Thomas J. Vallely:VN về cơ bản thất bại trong quá trình công nghiệp hóa

Năm 1985, hạ nghị sĩ bang Massachusetts (Mỹ) Thomas Vallely lần đầu trở lại Việt Nam kể từ sau cuộc chiến với một mục đích riêng. Là cựu lính thuỷ đánh bộ trong chiến tranh, ông muốn làm bộ phim quảng cáo ngắn cho cuộc chạy đua vào Quốc hội Mỹ vào năm sau.
“Khi đó tôi ghét VN, tôi không phải tuýp người yêu VN ngay từ đầu,” Vallely thừa nhận về lần trở lại đầu tiên.

Bộ phim làm thành công nhưng cuộc chạy đua của Vallely thì thất bại. Nhưng lần trở về của ông không phải là vô vọng. Chuyến đi đó gieo lại ông mong muốn được làm gì đó với VN. Một cử chỉ trả ơn mà ông định là tặng học bổng đưa một sinh viên Việt tới trường chính sách Kennedy của ĐH Harvard trở thành khởi đầu của chương trình Việt Nam tại ĐH Harvard. Có mối quan hệ thân thiết với các thượng nghị sĩ từng là cựu binh như John Kerry, John McCain,...ông là người đưa chương trình học bổng Fulbright tới VN từ năm 1992 – một loạt lãnh đạo của VN hiện tại như Nguyễn Thiện Nhân, Phạm Bình Minh, Cao Đức
Phát,...đều là cựu sinh viên của chương trình này. Sau học bổng Fulbright là chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (FETP) mà sau này được nâng cấp thành trường Fulbright và ông cũng là người sáng lập của quỹ học bổng VEF mà mỗi năm quốc hội Mỹ giành cho 5 triệu USD. Song song với các chương trình giáo dục này là các báo cáo về phát triển và tình hình kinh tế VN cho chính phủ mà ông tham gia cùng với các chuyên gia của ĐH Harvard. Chuyến đi ngắn của năm 1985 trở thành khởi đầu của cuộc gắn bó dài tới hơn 27 năm mà khi nhìn lại ông thừa nhận là “không bao giờ nghĩ mình lại gắn bó lâu tới vậy.”

27 năm qua đi, tối 24-3, giải thưởng Phan Châu Trinh lần thứ 8 về văn hoá và giáo dục đã chính thức ghi nhận những đóng góp của Thomas Vallely cho nền giáo dục VN. Giải thưởng ghi nhận ông vì những
đóng góp quan trọng cho giáo dục đại học ở VN. Ở tuổi 87, nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, chủ tịch quỹ Phan Châu Trinh, bước lên sân khấu để trao giải cho ông. Nhà văn Nguyên Ngọc trong diễn văn kết luận ca ngợi ông “sao hiểu VN đến thế, cặn kẽ và sâu sắc đến thế, thấu đáo và cơ bản đến thế, để kiên định suốt gần ba mươi năm” đem đến cho VN hai điều cơ bản nhất: một cuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường đích thực, và một công cuộc cải cách giáo dục thực sự triệt để và căn bản.

Trong lời đáp từ, Vallely nhắc lại về tư tưởng của Phan Châu Trinh về giáo dục là nền tảng của phát triển và nhắc lại “cải cách giáo dục là thách thức lớn nhất ở VN hiện nay” và nếu không cải cách nhanh chóng giáo dục thì VN có nguy cơ không đạt được “tiềm năng to lớn của mình.” Trong bài đáp từ, ông cũng nhắc về “chủ nghĩa ngoại lệ” (tự coi mình đặc biệt) như một thách thức đối với VN. Cuộc trò chuyện của TTCT với ông bắt đầu từ “chủ nghĩa ngoại lệ.”

Thomas Vallely, ông đề cập tới chủ nghĩa ngoại lệ trong bài đáp từ của mình tại lễ trao giải Phan Châu Trinh như là một thách thức lớn đối với giáo dục VN. Xin ông nói rõ hơn về điểm này.

Trong diễn văn tôi đề cập cả chủ nghĩa ngoại lệ của Mỹ (tự coi mình là đặc biệt) và chủ nghĩa ngoại lệ VN và tôi nghĩ từng nước đều có cái chủ nghĩa ngoại lệ của riêng mình. Khi một nước cân nhắc cách thức đổi mới các trường đại học, họ nên nhớ đến những nguyên tắc nền tảng – ví dụ như tự do học thuật, cơ chế tự chủ, cơ chế trách nhiệm đối với xã hội,... – mà được tất cả các trường đại học hàng đầu thế giới cùng chia sẻ. Các nguyên tắc, giá trị này, không giới hạn ở phạm vi khu vực. Điều đó không có nghĩa là các trường đại học không cần để ý tới các điều kiện văn hoá xã hội – đương nhiên là họ cần. Tuy nhiên, các trường đại học tốt nhất thế giới, dù đó là ở Boston, Berlin hay Bắc Kinh đều có những giá trị nền tảng nhất định. Một cách để tránh cái bẫy tư duy ngoại lệ này là phải so sánh mình với các nước khác bằng cách tham gia các chương trình thi cử quốc tế hay phấn đấu để được các tổ chức quốc tế thừa nhận.

Nghị quyết mới của ban chấp hành trung ương về cải cách giáo dục được giáo sư Hoàng Tuỵ, một người phê phán mạnh mẽ những thất bại của nền giáo dục VN, là nghiêm túc và toàn diện nhất trong vài thập kỉ qua. Ông có đồng ý với giáo sư Hoàng Tuỵ về điểm này?

Từ những gì tôi biết thì nghị quyết đó đưa ra chiến lược rất tốt cho giáo dục VN ở mọi cấp độ.

Ông có quan ngại gì về chiến lược mới này?

Trong hơn một thập kỉ qua, VN đã đưa ra một số chính sách, luật và nghị định liên quan tới giáo dục như nghị định 14, luật giáo dục đại học hay gần đây là nghị quyết của Trung ương. Thách thức đối với VN không phải là chuyện diễn giải chính sách nhưng thường là ở chuyện thực hiện các chính sách đã được
thông qua.

Ông đã gắn bó với giáo dục VN hơn hai thập kỉ qua và từng chứng kiến một loạt quyết sách về cải cách giáo dục. Có cái bẫy hay trở ngại nào có thể làm trật một chiến lược tốt? Có điều gì cần cẩn trọng.

Ở VN và các nước đều có xu hướng là thường coi giải pháp với giáo dục đại học là câu chuyện nguồn lực – rằng đầu tư nhiều nguồn lực sẽ dẫn tới kết quả tốt hơn. Trong khi nguồn lực là cần thiết, đó không phải là yếu tố quan trọng duy nhất. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều lần rằng quản trị giáo dục có lẽ là thành tố quan trọng nhất. Và đó cũng là yếu tố mà rất khó đưa ra đúng được trong chính sách giáo đục đại học.

Với đại học Fulbright mà mà ông đang triển khai, có điều gì khiến ông không hài lòng. Tôi biết dự án đã được lãnh đạo hai nước công khai ủng hộ nhưng có vẻ quá trình triển khai vẫn mất thời gian và có những cản trở hành chính?

Kể từ khi đại học Fulbright được công bố trong tuyên bố chung giữa chủ tịch nước Trương Tấn Sang và tổng thống Barack Obama, dự án đã có những tiến bộ đáng khích lệ. Tôi rất vui mừng với sự hỗ trợ mà chúng tôi có được từ phía chính phủ Mỹ và VN. Tuy nhiên, đại học Fulbright là dự án tư nhân và phi lợi nhuận. Điều đó có nghĩa là mặc dù hỗ trợ của chính phủ là quan trọng, thành công cuối cùng của chúng tôi dựa vào chuyện vận động sự hỗ trợ của các cá nhân, các tập đoàn và các tổ chức thiện nguyện ở VN, Mỹ và các nước. Tôi tin là chúng tôi sẽ là được điều này.

Mọi ngườiđã nói nhiều về các vấn đề của hệ thống giáo dục VN: nhuốm màu tiền bạc, thiếu tự do học thuật, quản trị giáo dục kém...và có vẻ càng nghĩ thì càng thấy bế tắc. Có điểm sáng nào mà ông thấy có thể bám víu vào cho thay đổi?

Rõ ràng tài nguyên lớn nhất của VN, trong giáo dục hay trong mọi lĩnh vực khác, là con người VN. Nơi nào trên thế giới tôi đi tôi cũng gặp những sinh viên và chuyên gia VN rất tài năng. Chuyện thành bại của VN trong xây dựng hệ thống giáo dục đại học có thể hỗ trợ cho phát triển kinh tế và chuyển dịch xã hội phụ thuộc vào khả năng chính quyềncó thể thu hút một tỉ lệ những người trẻ tài năng theo đuổi sự nghiệp trong giáo dục đại học. Đặc biệt quan trọng là những người trẻ đang theo đuổi các bằng trên đại học ở nước ngoài. Họ là thế hệ những học giả và nhà khoa học tiếp theo của VN.

Sau chiến tranh, ông bắt đầu ở VN bằng việc thiết lập chương trình Fulbright, rồi sau đó là chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright,quỹ học bổng VEF rồi giờ là ĐH Fulbright. Tầm nhìn của ông với giáo dục VN khi đó và giờ sau hơn 20 năm có gì thay đổi không?

Tôi đã và sẽ luôn tin tưởng vào sức mạnh của việc trao đổi học thuật. Đầu tư vào giáo dục cho con người là đầu tư cho tương lai của đất nước. Cùng lúc, càng làm việc lâu ở khu vực này, tôi càng nhận thấy giới hạn của trao đổi học thuật. Việc chỉ gửi số lượng lớn người đi du học nước ngoài không đảm bảo

chất lượng các cơ sở giáo dục trong nước sẽ tăng lên. Một phần thách thức lớn của cải thiện giáo dục đại học là tạo môi trường để dẫn đến chất lượng học thuật xuất sắc. Đó là điều chúng tôi đang cố làm tại trường Fulbright và là điều chúng tôi sẽ cố làm ở quy mô lớn hơn tại ĐH Fulbright.

Ông có mất niềm tin vào VN? Phải chăng đó là lý do giờ ông tập trung nhiều vào Myanmar hơn là VN?

Tôi học ra một điều từ lâu rằng không bao giờ được đánh giá thấp người VN. Vì lý do đó tôi sẽ không bao giờ mất hi vọng vào VN.

Dường như những gì ông nói có vẻ ngoại giao lịch thiệp quá?

Không tôi tạo nên được sự nghiệp là nhờ chuyện phê phán VN. Không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà cả về kinh tế,...Nếu không có những lời phê phán đó thì tôi không nghĩ chúng tôi có bất
cứ ảnh hưởng gì.

Xin ông nói thêm một vài ví dụ về chủ nghĩa ngoại lệ ông thấy ở VN?

Như tôi nói hôm trước. Tôi lấy ý tưởng về chuyện ngoại lệ từ một bài báo của giáo sư Hoàng Tuỵ miêu tả tại sao ông thấy ngao ngán vô cùng khi nghe chức danh “giáo sư tiến sĩ” ở VN. Theo nghĩa đó, ở VN tạo ra hệ thống riêng về cách quy định giáo sư (ở các nước hàm giáo sư là do các trường phong) mà không làm như thế giới vẫn làm – nói cách khác VN theo cái ngoại lệ tự họ nghĩ ra. Và khi tự bó hẹp trong cái thế giới của mình mà vẫn nghĩ là mình giỏi thì đó chính là biểu hiện của chủ nghĩa ngoại lệ.

Khi tự nghĩ ta có thể tạo ra một nhóm các học giả mà có cái luật lệ riêng của mình mà không nơi nào trên thế giới làm thì đó có nghĩa là chủ nghĩa ngoại lệ. Và VN có hệ thống giáo dục đại học nghĩ mình là ngoại lệ vậy.

Hãy nhìn giáo sư Ngô Bảo Châu và Đàm Thanh Sơn, họ không hề theo chủ nghĩa ngoại lệ. Họ hoà vào với thế giới. Họ đang dạy ở ĐH Chicago – đó là địa hạt của kiến thức thế giới. Hai giáo sư đó không cần chủ nghĩa ngoại lệ và họ nổi tiếng trên toàn thế giới. Chủ nghĩa ngoại lệ là cái cách mình chối bỏ và nói “tôi không muốn làm điều đó.” Tự chối bó và nói tôi không muốn thành Ngô Bảo Châu hay Đàm Thanh Sơn.

Tôi nghĩ là khá phổ biến ở VN mọi người hay tự nghĩ là mình “ngoại lệ.”

Ông đã làm việc ở VN 30 năm rồi ông có nghĩ chuyện đó là mới không?

Anh biết đấy, tôi đang làm ở Myanmar. Và mọi người hỏi tôi sự khác biệt lớn nhất giữa làm việc ở Myanmar với làm việc ở VN là gì.

27 năm trước khi chúng tôi bắt đầu làm việc với giới lãnh đạo VN, họ rất tự hào – điều có thể hiểu được – về chiến tích quân sự và ngoại giao của mình. Họ chiến thắng đế quốc Mỹ, họ thống nhất đất nước,...cái giá rất lớn nhưng họ làm được. Sự hãnh diện đó dẫn tới việc họ thay đổi sang hệ thống hiện đại hơn và tiến hành Đổi mới.

Ở Myanmar câu chuyện trái ngược hoàn toàn. Họ là những thất bại. Hơn 60 năm mà họ không có tăng trưởng kinh tế. Ở đây vẫn là cái chế độ phong kiến và giờ họ đang hi vọng vào cơ hội thứ hai để vươn lên. Một vài người có tư tưởng cải cách ở Myanmar họ không hề tự hào về quá khứ, họ thấy xấu hổ về nó thì đúng hơn.

Khi bạn chiến thắng trong cuộc chiến thứ 2 và thứ 3 ở ĐÔng Dương, bạn có quyền cảm thấy mình “ngoại lệ.”Nhưng không thể để cái suy nghĩ “ngoại lệ” đó chi phối cả hệ thống của bạn rồi giờ dùng nó như là cái lý lẽ để biện minh (cho trì trệ).

Ông có nghĩ là VN đã tới mức mà rơi vào con đường của thất bại – như kiểu Myanmar?

Không. VN phát triển chậm nhưng Myanmar còn phát triển chậm hơn nữa. Trong các báo cáo mà chúng tôi viết cho lãnh đạo VN, chúng tôi nói rõ là VN đang phát triển rất dưới tiềm năng của họ. VN đáng ra phải phát triển từ 8-10%/năm nhưng thực tế thì có lẽ chỉ phát triển ở mức 3%/năm. VN đã tự để mình phát triển chậm vậy, tiếp tục duy trì hỗ trợ cho những công ty và cá nhân hoạt động không hiệu quả.

VN đã không đưa vào khuônkhổ các doanh nghiệp nhà nước, VN đã không kiểm soát giới đại gia. VN để họ tự tung tự tác và điều đó dẫn tới tốc độ tăng trưởng chậm của VN.

Tôi nghĩ thông điệp đầu năm của thủ tướng VN, nếu đọc kỹ anh sẽ thấy đây là lần đầu tiên một chính trị
gia VN nhấn mạnh sự thay đổi của chính trị gắn liền với thành công. Tôi nghĩ là ông ta đúng. Nếu VN không thay đổi sự tham gia của các nhóm trong xã hội thì sẽ khó mà có tăng trưởng nhanh được.

Khi tôi bắt đầu làm việc ở VN hồi năm 1989, mức thu nhập GDP đầu người giữa VN và Trung Quốc tính theo sức mua (PPP) là ngang nhau khoảng 750 USD . Và giờ thì thu nhập đầu người của Trung Quốc hơn gấp đôi VN rồi. GDP đầu người tính theo sức mua (PPP) của họ sắp đạt 9.000 USD/năm còn VN thì giờ là khoảng 3.500 USD (IMF October 2013 World Economic Outlook). VN đã không tổ chức mọi thứ theo cách hiệu quả hơn như cách Trung Quốc, Hàn Quốc hay Đài Loan làm trong giai đoạn công nghiệp hoá.

VN về cơ bản thất bại trong quá trình công nghiệp hoá và giờ đang phải bắt đầu lại. Tôi nghĩ thông điệp
của thủ tướng về cơ bản nói rất rõ “tôi muốn một cơ hội thứ hai.” Và đó là điều tốt (khi ông nói vậy). Tôi khá ngạc nhiên.

Chủ nghĩa ngoại lệ ở đây là: VN không làm như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan đã làm, mà tự làm theo ý VN muốn. Tôi tiếp tục đưa tiền cho những công ty không hiệu quả, tôi không thể kiểm soát giới đại gia, tôi cứ để chuyện quan liêu tiếp tục, tôi không sửa hệ thống giáo dục,...tôi có thể làm bất cứ thứ gì tôi muốn và tôi sẽ vẫn phát triển được như các nước – đáng tiếc là thực tế đã không diễn ra như vậy.  Chủ nghĩa ngoại lệ chỉ cho tôi tăng trưởng 3% trong khi đáng ra tôi phải tăng trưởng 9%.

Trong 30 năm ông gắn liền với nền giáo dục VN, ông có thấy đó là xu hướng đi xuống của hệ thống giáo dục?

Tôi nghĩ tôi từng thấy đà tiến sau khi VN gia nhập WTO. Khi đó ai cũng nghĩ đó là đà để VN bước tới một nền kinh tế tư nhân hơn – sẽ để tư nhân được chi phối quá trình công nghiệp hoá hơn. Nhưng rồi VN lại lo lắng về chuyện đó và chặn lại đà công nghiệp hoá của khối tư nhân.

VN chấp nhận để cho khối doanh nghiệp FDI được phát triển mạnh nhưng với khối phi-FDI thì VN lại đi ngược lại về hệ thống phi kinh tế thị trường trước kia. Đó là điều cần thay đổi vì cách vận hành đó không hiệu quả.

Như anh thấy, khối tư nhân thực tế bị kìm chân lại. Khối ngân hàng lấy tiền rồi cho những người không hề có năng lực, không hiệu quả vay. Đó là điều làm cho kinh tế phát triển chậm. Sự tăng trưởng chậm đã kéo dài ở VN. Trung Quốc đã phát triển tốt hơn VN rất nhiều lần. Trong giai đoạn từ 1989-2014, GDP đầu người của Trung Quốc đã tăng hơn gấp đôi so với VN. Họ kỉ luật hơn trong quá trình công nghiệp hoá và họ ít chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa ngoại lệ.

Tôi nghĩ về nhân sự VN cần một cơ chế như tập đoàn Viettel. Một hệ thống mà bạn có thể sa thải người nếu không hiệu quả. Ở Trung Quốc, nếu giáo sư làm việc không tốt thì anh thôi không được làm giáo sư nữa.

Có điểm nào trong chiến lược giáo dục mới khiến ông chú ý không?

Tôi nhớ nghị quyết 14/2005 của chính phủ về đổi mới giáo dục cuối cùng thì dường như VN chẳng thực hiện nghị quyết đó. Nghị quyết đó cũng tốt nhưng cuối cùng thì VN chẳng làm gì cả. Vấn đề luôn là triển khai chứ những gì họ nói thì đều ổn.

Nếu về nghị quyết có lẽ tôi sẽ viết khác đi về vấn đề nhân lực. Tôi cũng nghĩ là chuyện tự chủ (đại học) là không đủ mà còn cần nói về quản trị giáo dục. về quản trị, ở VN hệ thống quản trị giáo dục vẫn đóng. Chưa có cơ chế mở về lựa chọn hiệu trưởng hay hội đồng lãnh đạo đại học ở VN nhưng không nên lẫn lộn giữa tự chủ và quản trị giáo dục. Giáo dục VN cần sự quản trị giáo dục mới – một sự quản trị mà tạo ra được thành tựu về mặt học thuật. Quản trị giáo dục nên tư duy như kiểu các hãng tư nhân vận hành: hệ thống cũ vận hành không tốt thì nên thay đổi. Ở ĐH Fulbright, chúng tôi sẽ vận hành khác đi.

Từ cái báo cáo về giáo dục đại học năm 2008 mà ông viết cùng với Ben Wilkinson thì các vấn đề đã thay đổi thế nào?

Thực tế thì có rất nhiều người trong Đảng muốn đẩy những ý tưởng chúng tôi đưa ra (trong báo cáo).

Giáo dục thực tế rất giống một hệ thống độc quyền. Nếu anh để các nhóm tư nhân tham gia vào, hệ thống giáo dục sẽ thất bại. Giáo dục không thể là mô hình vì lợi nhuận được. Các đại học ở Mỹ không phải là các trường vì lợi nhuận. Ngay kể cả các đại học tư nhân thì họ cũng không phải vì lợi nhuận. Nếu để kiếm tiền thì anh sẽ chẳng bao giờ có những khoa như vật lý học, anh chẳng thể kiếm tiền bằng việc dạy kịch Shakespeare, không thể kiếm tiền khi anh dạy nhạc, dạy nhân chủng học hay triết học. Thực tế là anh lỗ. Và anh cần nhà nước phải trợ cấp thông qua tiền học hay thông qua các dự án nghiên cứu. Đó là lời khuyên của chúng tôi cho chính phủ VN – đừng dùng hệ thống giáo dục chỉ toàn các tập đoàn tư nhân.

Vậy trường đại học Fulbright sẽ khác thế nào?

ĐH Fulbright là đại học phi lợi nhuận. Chúng tôi không cố kiếm lời bằng trường ĐH Fulbright. Đây sẽ là
đại học phi tư lợi nhuận đầu tiên ở VN mà không phải là công ty. Cái mới ở ĐH Fulbright là chúng tôi không chỉ muốn dừng là ĐH mới tốt nhất ở VN mà chúng tôi muốn một đại học mới tốt nhất trên thế giới.

Chúng tôi không định mang Harvard tới VN mà chúng tôi chỉ muốn dùng hệ thống công nghệ mới cho giáo dục, một đại học hàng đầu ở thế giới đang phát triển.

Trong gần 30 năm vừa rồi, điều gì khiến ông thất vọng nhiều nhất trong quá trình làm việc tại VN?

Tôi vẫn nghĩ VN sẽ thành công hơn thế. VN đã phát triển dưới sức của mình. VN đã có thể, và đến giờ vẫn còn tiềm năng để thành công – nhưng tự các bạn quyết định là không muốn thành công như vậy. Và điều đó làm tôi thất vọng.

Sao ông nói là tự quyết định không muốn thành công?

Khi tôi đọc thông điệp đầunăm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tôi có cảm giác như ông có đọc cuốn sách “Why Nations Fail” (Tại sao quốc gia thất bại). Thông điệp của cuốn sách là các nước phải có những thể chế kinh tế và chính trị có sự tham gia đầy đủ của các đại diện (trong xã hội). Để là một đất nước tăng trưởng nhanh và hùng mạnh, thì cần đủ cả thế chế kinh tế và chính trị mang tính đại diện như vậy.

Đó là điều còn thiếu (tại VN) và quyết định không làm điều đó đồng nghĩa với việc là tự quyết định không
muốn mình thành công. Quyết định đó tiếp tục được lặp lại để tạo ra một sự cân bằng chính trị mà không tạo ra thay đổi. Điều đó không chỉ gây thất vọng cho tôi mà còn gây thất vọng với tất cả những người sống ở đây.

Hệ thống giáo dục VN thì đang khủng hoảng và ông nói về việc xây dựng một trường đại học hàng đầu thế giới. Có vẻ là xa vời quá chăng?

Đó là thách thức rất lớn. Nguồn lực về con người là nguồn lực lớn nhất của VN.
Chúng tôi vẫn nói điều này. Một điều mà ở hệ thống giáo dục VN vẫn còn sự liêm chính chính là cuộc thi
đầu vào ở Đại học. Các ĐH công không phải là tốt nhưng những học sinh giỏi vẫn thi vào đó. Và bài thi đầu vào vẫn còn được đảm bảo (không bị tham nhũng). Chúng tôi sẽ cố tận dụng và khai thác điểm đó – vẫn còn nhiều người trẻ, giỏi đi thi đại học. Chúng tôi sẽ làm điều đó – đến giờ chưa có trường nào tận dụng được điều đó hết. Chúng tôi không phải là xây trường ở một nơi không có gì hết.

Khi tôi ở Mỹ, mọi người cũng suốt ngày tranh cãi về chuyện chất lượng giáo dục rồi đổi mới giáo dục ở đó.

Những trường chất lượng cao nhất ở Mỹ vẫn rất đảm bảo. Những trường ở top 200 ở Mỹ thì chất lượng vẫn rất tốt.

Ông có thấy những tín hiệu tích cực gì ở VN. Như ông nói tín hiệu tích cực trong bài thông điệp của thủ tướng

Tôi có thấy. Tôi nghĩ thông điệp của thủ tướng là rất ấn tượng. Tôi nghĩ điều ông muốn nói là hãy tiếp
tục cuộc đối thoại về hiến pháp đã làm từ năm ngoái. Năm ngoái khi ở VN có làm góp ý về hiến pháp các bạn có hơn 25 triệu ý kiến tham gia góp ý. Tôi nghĩ có xu hướng muốn ủng hộ việc cải cách về quản trị, về điều hành và cuộc tranh luận đó là rất sôi nổi. Tôi nghĩ thủ tướng muốn tiếp tục xu thế đó và muốn duy trì cuộc đối thoại từ năm ngoái – ông thấy những giá trị trong cuộc tranh luận đó và muốn tạo ra sự thay đổi về chính trị và tôi nghĩ đó là thông điệp rất tốt từ một chính trị gia đang tìm cái cơ hội thứ hai cho bản thân.

Một trong những điều đã thay đổi VN chính là nhờ internet. Chính trị VN giờ rất sống động cũng nhờ điều này. Internet thực tế là thành tựu của chính quyền. Chính chính quyền tạo ra sự phát triển sống động của hệ thống viễn thông này.

Tôi có nói về Viettel bởi chính nhờ Viettel mà đã có sự cạnh tranh (trong ngành viễn thông). Khi anh có cạnh tranh, thực tế người Việt thường làm rất tốt – trong khi với hệ thống mệnh lệnh thì anh chỉ phát triển chậm. VN thực tế sẽ giỏi khi đẩy vào môi trường cạnh tranh. VN vẫn còn cơ hội để có thể vào nhóm các nước thành công nhưng VN phải nhanh chân lên.

Mọi người vẫn nói về Myanmar như một điểm sẽ cạnh tranh với VN.

Myanmar là cái nơi hoàn toàn khác. Đó vẫn là chế độ phong kiến ở Myanmar. Chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn phát triển và tốt hơn nhiều. VN sử dụng chế độ toàn trị để đi từ đói nghèo sang một nước có thu nhập trung bình. Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Trung Quốc đều như vậy. Nhưng khi đã lên tới thu nhập trung bình thì phải nghĩ cách làm khác. Và đó là cái chỗ VN đang vướng lúc này. Myanmar thì thậm chí còn chưa tới cái điểm bằng VN khi VN bắt đầu xã hội chủ nghĩa sau 1945.

VN giờ vẫn là đối tượng chi phối trong mô hình Trung Quốc+1. VN vẫn là điểm đổ đến của FDI trong mô
hình Trung Quốc+1. Nhưng giờ nó ở mức giống như là anh có quá nhiều nguồn vốn FDI rồi. VN rơi vào trạng thái “lời nguyền tài nguyên.” Nhưng thay vì có dầu như kiểu Putin, VN lại có vốn FDI và FDI quá nhiều đã che hết nhưng cái xấu và vấn đề ở nội tại VN.

FDI giờ giống dầu. VN làm rất nhiều điều sai nhưng nhiều khi không để ý tới những cái sai đó (vì có FDI
che chắn cho). VN bị rơi vào trạng thái nghiện FDI (giúp che chắn sai lầm) và không chịu thay đổi. Giờ thì thủ tướng VN nói về chuyện kết nối giữa chính trị với thay đổi, nói về nền chính trị với sự đại diện của các nhóm trong xã hội. Đó là điều rất quan trọng.

Thời điểm những năm 80 đó có bao giờ ông nghĩ mình sẽ dính líu với VN lâu tới vậy?

Không, không bao giờ nghĩ là lâu tới vậy. Thực sự thì tôi mừng là sự nghiệp chính trị của tôi thất bại. Tôi thích cái nghiệp này hơn nhiều so với cái nghiệp trong chính trị nếu tôi còn theo đuổi. Nên tôi vẫn hay nói là may là tôi tranh cử thất bại.

 Đó là cái nghiệp thú vị. Tôi được ở cái ghế đầu để chứng kiến những biến chuyển của VN trong thời gian dài: cả những thành công cũng như nhưng yếu kém ở VN. Tôi có cái sự nghiệp khá thú vị ở VN. Nhưng sự thật thì sự nghiệp của tôi ở VN không chỉ đơn thuần là về VN mà về sự phát triển của VN, và quá trình xây dựng một đất nước.

Quan hệ tôi với VN giống như là cái mối quan hệ yêu-ghét. Có khi tôi yêu VN, có khi thì VN khiến tôi muốn phát khùng.

In box:
“Bất kỳ một nền giáo dục đại học có chất lượng nào đều có một số đặc điểm có tính phổ quát, vượt ra khỏi bối cảnh địa phương. Những trường đại học xuất sắc nhất trên thế giới có chung một số thuộc tính cơ bản, trong đó bao gồm tự do học thuật, trọng dụng nhân tài, và minh bạch. Nỗ lực cải thiện giáo dục đại học mà bỏ qua những phẩm chất vô hình này thường không bao giờ đem lại kết quả mong muốn. Các trường đại học nên bắt rễ sâu từ nền văn hóa bản địa, nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu dùng văn hóa bản địa là cái cớ để hạn chế những nguyên tắc cốt lõi của đại học, như tự do học thuật
chẳng hạn.” (trích đáp từ của Thomas J. Vallely)

Thứ Ba, ngày 31 tháng 12 năm 2013

10 phát ngôn "đáng suy nghĩ" năm 2013 (của các vị LĐ cả đây,bà con)


10 phát ngôn "đáng suy nghĩ" năm 2013

"Không tham nhũng lấy đâu tiền chạy chức"Sáng 18/9, tại cuộc họp thảo luận về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2013, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhận định: “Không tham nhũng lấy đâu tiền mà chạy chức vụ này chức vụ kia…”.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.
Chủ tịch Quốc hội cũng cho rằng cần nói rõ lực lượng đấu tranh phòng chống tham nhũng có tiêu cực, bỏ sót, bao che không? Có tham nhũng trong đấu tranh phòng chống tham nhũng hay không?”.
"Bên cạnh thanh tra, các ngành kiểm toán, điều tra, kiểm sát, tòa án thì sao, đã làm hết trách nhiệm chưa?", Chủ tịch Quốc hội đặt hàng loạt câu hỏi.

Thứ Hai, ngày 04 tháng 11 năm 2013

Thời điểm vàng đón vốn Nhật? (*)



(*) Đó là tiêu đề của bài phỏng vấn đăng trên Tuổi trẻ sáng nay. Tôi vốn không mấy thiện cảm với từ "vàng" vì lâu nay nghe và chứng kiến quá nhiều về chuyện người Việt ta ưa chuộng vàng như thế nào!. Nhưng tôi vẫn đọc nó và thấy điều thú vị là người trả lời phỏng vấn -Đại sứ Đoàn Xuân Hưng không dùng từ "vàng"... . Dù sao, thiết nghĩ  đây là những thông tin có giá trị phát ra từ một "người trong cuộc" rất đáng để giới lãnh đạo và giới doanh nhân Việt Nam tiếp thu nên xin mạn phép đăng lại trên blog cá nhân để có thêm người đọc (Xin lỗi tác giả tôi đã thêm dấu ? sau tiêu đề)-(Chủ Blog Bách Viêt).  

Thứ Tư, ngày 31 tháng 7 năm 2013

Một lựa chọn khả thi cho đường sắt Bắc - Nam

Lời giới thiệu của chủ blog
Là ngươi quê miền Nam nhưng hầu hết cuộc đời sống và làm việc ở Hà Nội, bản thân tôi và gia đình đã từng  nhiều lần đi Tàu Thống nhất, từ những chuyến tàu nhếch nhác nhất  trong những năm sau 1975 đến những chuyến tàu tuy chưa đẹp và chưa thuận tiện nhưng khá an toàn ngày nay, tôi thấy hoàn toàn đồng cảm với nội dung của bài viết dưới đây của tác giả người Nhật Pi Uy đăng trên báo Asahi Shimbun và được đưa lại trên Dân trí hôm nay.

May mắn thay, sau rất nhiều tranh cãi tại Quốc hội và trong công luận, cái gọi là "Dự án Tàu cao tốc Bắc -Nam " đã tạm hoãn vô thời hạn. Lúc đó tôi nghĩ  "Ông Trời đã cứu Việt Nam khỏi một bàn thua trông thấy!" Và tôi cũng rất lấy làm thú vị khi đường hầm Đèo Hải Vân được khánh thành, nhưng đường sắt vẫn còn chạy trên con đường cũ của nó vắt vẻo trên đĩnh Đèo mà mỗi lần có dịp đi qua tôi vẫn thầm khen là "báu vật" của ngành du lịch Việt Nam chỉ tiếc rằng chưa được khai thác...

Thứ Sáu, ngày 05 tháng 7 năm 2013

Đất công vào túi ai?



Có thể nói, tệ nạn tham nhũng ở Việt Nam ngày nay đã trở thành một căn bệnh nan y, trong đó tham nhũng đất công là chứng bệnh rất khó phát hiện và khó điều trị. Bởi lẽ đất công có ở mọi nơi; trừ một số nơi "khỉ ho cò gáy", còn lại thường bị sử dụng sai muc đích, thậm chí bị tranh cướp giữa các nhóm lợi ích trong sự quản lý đầy sơ hở của các cơ quan chính quyền. Riêng tại Quận Cầu Giấy là địa bàn phát triển nóng nhất trong quá trình mở rộng Thủ Đô, có rất nhiều hình thái xâm phạm đất công, và một trong những thủ đoạn phổ biến là núp bóng những "dự án" với những cái tên mĩ miều như "xã hội hóa","khai thác quỹ đất" và "đổi đất lấy công trình" v.v...Chúng không chỉ gây nên tình trạng thất thoát công của mà còn gây ra những hậu quả khôn lường đối với môi trường sống. Bài viết này trước hết nói về tình trạng tại Công viên Cây xanh Nghĩa Đô mà bản thân người viết đã từng tham gia lao động để xây dựng nhiều năm về trước.

Thứ Ba, ngày 18 tháng 6 năm 2013

Thánh dạy: Vào tuổi bốn mươi không lầm lẫn nữa (*)


(*)Day la tieu de bai viet vua duoc dang tren Bauxit VN ngay 10/6/2013. Ban than chu blog Bach viet dang di du lich, khong co dieu kien "cham soc" blog cua minh...do do xin man phep dang lai bai viet nhu mot "tai lieu tham khao". Neu co gi khong vua long xin ban doc luong thu.

Bốn thập kỷ hết đánh nhau,

Ngẫm mình lạc hậu mà đau đớn lòng!
Đã gần bốn thập kỷ trôi qua, kể từ 1975. Sau gần bốn thập kỷ ít đánh nhau, xã hội Việt Nam hiện nay phân thành hai nhóm lớn, nhóm U50+ (45 tuổi trở lên) và nhóm U45- (dưới 45 tuổi). Nhóm tuổi trẻ U45- là nhóm ít dính líu trực tiếp với quá khứ, dù cho lớn lên ở trong hay ngoài nước, đối với họ, thay đổi cái cũ lỗi thời để Việt Nam có một thể chế hội nhập, tiến bộ, hòa hợp dân tộc, là điều ít phải bàn cãi. Tuy nhiên, dẫn dắt gia đình và xã hôi, cả kinh tế và chính trị, cả đức tin và tâm linh, ân oán vay trả hiện tại và tương lai…lại thuộc nhóm U50+. Do những trái nghiệm cuộc sống, họ phải cân nhắc nhiều điều là tất yếu. Vì vậy, những điều được viết dưới đây, là những nhận xét không định kiến, với mong muốn cung cấp cho nhóm U50+, thuộc mọi phía, mọi nơi, một góc nhìn khoa học khách quan để tham khảo.


Thứ Ba, ngày 28 tháng 5 năm 2013

Nợ công của Việt Nam đang ở mức nào?

Báo Dân trí ngày 27/5/2013 có đăng bài viết với tiêu đề "Nợ công đã lên tới 95% GDP?" cho thấy những số liệu đáng kinh ngạc dưới đây.  

Tổng nợ công năm 2012 ước tính khoảng 55,4% GDP. Tuy nhiên, nếu tính cả nợ trong hệ thống ngân hàng của DNNN và khoản nợ bằng trái phiếu trong nước không được Chính phủ bảo lãnh khác thì nợ công Việt Nam lên tới 95% GDP, vượt xa ngưỡng an toàn 60% GDP.
Đồng hồ nợ công của Việt Nam trên Economist: Mỗi người dân "cõng trên lưng" 817,74 USD nợ công.

Thứ Sáu, ngày 12 tháng 4 năm 2013

Liệu Vietnam Airlines có theo bước Vinashin?

Bẳng đi mấy năm không có dịp trở lại khu nhập cảnh quốc tế của sân bay Nội Bài, mới đây nhân một chuyến du lịch, tôi được "gặp" lại khu này và không khỏi ngỡ ngàng về sự xuống cấp của nó.

Dưới ánh sáng dù tù mù bên trong khu đón khách đến (arrival) người ta vẫn đễ dàng nhận thấy tình trạng cũ kỉ lỗi thời đến mức quê mùa của phòng ốc, trang thiết bị và phong cách làm việc tại đây. Có lẽ đối với những du khách mới đến đây lần đầu thì mọi thứ tại đây thật xa lạ so với các sân bay mà họ từng đi qua. Sự khác biệt toát ra từ những viên gạch lát sàn dưới chân đến những quầy hải quan to, thô và từ bản thân những người nhân viên ngồi trong đó. Khác hẳn với tất cả các sân bay quốc tế, ở Việt Nam nhân viên Hải quan và bảo vệ thường có dáng gầy gò lại ăn mặc quá rộng và có thể nói tềnh toàng như dân thường vậy!; họ không quen đứng thẳng chân và tay, .mà đứng khụy một chân trong khi một hoặc cả hai tay đút túi quần trông thật thảnh thơi!...Tất cả khiến họ mất thế oai nghiêm cần thiết của một người đang thực thi công vụ. Lẽ đương nhiên đó không chỉ là bề ngoài, mà còn cho thấy thực chất  công việc.

Có lẽ vì cảm thấy lạ lẫm nên đám hành khách bổng trở nên trầm lắng khi bước vào khu giành cho khách đến.Sự yên tĩnh đó chỉ bị phá vỡ khi mọi người tỏa ra các nơi để tìm cho mình một chiếc xe đẩy hàng.  Nhưng ngay cả  những chiếc xe đẩy hàng đối với họ cũng là một sự lạ lẫm thì phải (?) Chúng trông nặng nề và thô kệt, lại còn han rĩ, thậm chí khó di chuyển hoặc khó lái theo ý muốn; khi chúng chuyển động thì mỗi vòng lăn bánh đều phát ra tiếng kêu cót két...  Không chỉ vậy, những tiếng gầm rú kéo dài phát ra từ các dãy băng chuyền "hòa tấu" cùng tiếng cót két của những chiếc xe đẩy để tạo nên một giàn hợp xướng đặc biệt chào đón du khách đến sân bay Nội Bài -Thủ đô của Việt Nam!

Sẽ là phiến diện nếu không thấy một sự tiến bộ nào đó tại nơi đây. Cũng có đấy! Đó là việc giảm bớt hẳn trong khâu khám xét hành lý một cách "đại trà" như đã từng diễn ra trước đây. Nhưng thay vào đó, nghe nói nạn mất cắp  hành lý kí gửi đang khiến hành khách rất lo lắng. Đó là lý do mà người HDVDL của đoàn chúng tôi đã liên tục nhắc nhỡ mọi người không nên để bất cứ thứ gì có giá trị trong hành lý ký gửi, đặc biệt trong chặng bay về nước!  Đúng là ở nước Việt Nam thường khi được cái này thì mất cái kia, chẳng bao giờ được trọn vẹn!. Ví dụ, trong khi ở  tất cả các sân bay trên thế giới, xe ô tô đưa đón khách đều được phép vào sảnh, thì ở Nôi Bài xe bus đón đoàn khách đông người phải đứng tít bên ngoài buộc số đông người phải lếch thếch kéo đẩy  hàng hóa ra  xe thật nhếch nhác!. Hôm đó chúng tôi được may mắn không bị khám xét ...,nhưng đổi lại chúng tôi phải cuốc bộ ra ô tô. Nhưng dù sao kết  quả  cuối cùng về đến nhà không quá muôn là tốt lắm rồi!.

Theo các nguồn tin cho thấy hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) đến nay dù chiếm mưu thế độc quyền với nhiều ưu ái của Nhà nước vẫn đang gặp rất nhiều thua lỗ (theo tôi biết vẫn đang được nhànước bù lỗ) mà nguyên nhân chủ yếu là do những sai lầm trong chiến lược đầu tư và sức cạnh tranh yếu kém trên cả thị trường nội địa lẫn quốc tế. Có nhiều điều để nói, nhưng ở đây chỉ xin đơn cử về đường bay Hà Nội-Seoul -Tokyo mà tôi vừa đi qua . Cùng ngày có 5-6 đoàn du khách người Việt đi Nhật Bản và Hàn Quốc thì tất cả đều sử dụng hãng hàng không ASIANA của Hàn Quốc với cả hai chiều đi và về. Khách đông đến nỗi các chuyến bay của ASIANA luôn đầy ắp trong khi các chuyến bay của Vietnam Airlines chỉ được 1/2. Thời gian qua báo chính thống cũng đã đưa nhiều tin xấu về tình trạng dịch vụ và thái độ phục vụ yếu kém của Vietnam Airlines, như giá vé cao nhưng không thuận tiện cho người mua, thái độ tiếp viên mất lịch sự, thiếu chu đáo đối với hành khách, làm bắn nước chè hoặc thức ăn vào hành khách mà không xin lỗi, v.v...Đó là chưa kể nạn ăn cắp xăng dầu máy bay và sự tắc trách trong công tác duy tu bảo dưỡng trang thiết bị và trong cả khâu điều hành bay cùng với tình trạng buôn lậu đang lan tràn trong ngành khiến người ta lo ngại về độ an toàn của các chuyến bay.    

Phải chăng đó là những đấu hiệu cho thấy thời kỳ hoàng kim của Vietnam Airlines với tư cách một hãng bay độc quyền quốc gia sắp kết thúc? Nếu vậy liệu còn kịp hay không để rút bài học xương máu từ sự đổ vỡ của Vinashin có cùng hoàn cảnh để có cách nào khắc phục trước khi quá muộn?         

Thứ Hai, ngày 18 tháng 3 năm 2013

TQ tung vàng giả ra thị trường thế giới (*)

(*) Thông tin này lấy từ  họp thư trao đổi  giữa bạn bè. Tuy bản thân chủ blog chưa có điều kiện để kiểm chứng đầy đủ nhưng cũng đã thử truy cập các đường link được dẫn và thấy các nguồn tin đều có thật. Vậy xin lưu truyền lại nội dung dưới đây với thiện ý để mọi người cảnh giác !!! (Bách Việt)

Hãy đọc mẫu tin sau cho biết để đề phòng mua lầm hoặc cất lầm vàng giả!
Trung Quốc tung vàng giả ra thị trường quốc tế để lừa đảo và quấy rối kinh tế thế giới
Vàng giả đã được các chuyên gia và các nhà điều tra xác định rõ là do chính phủ Trung Quốc làm ra và họ đã cho tung khối lượng lớn vàng giả vào thị trường các nước để lừa đảo người tiêu dùng và đồng thời để quấy rối kinh tế thế giới. Cả ở thị trường New York và Việt Nam đều lên cơn sốt lo ngại về khối lượng rất lớn vàng giả do Trung Quốc sản xuất và đã đưa vàosử dụng lần này . undefined

Chủ Nhật, ngày 24 tháng 2 năm 2013

Tư liệu...+(3)

Quân đội làm Kinh tế: Tướng tá vừa ăn Lương Nhà nước vừa chia Lợi nhuận kinh doanh, không rõ viêc đóng thuế và kiểm toán... như thế nào?    

Hiện tại, Bộ quốc phòng đang quản lý hơn 110 doanh nghiệp, hoạt động đa dạng trên nhiều lĩnh vực kinh doanh như: Cơ khí, hóa chất; Nông, lâm và hải sản; Điện, điện tử, viễn thông; Dệt may, da giày; Thực phẩm, đồ uống, dược phẩm; Thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ; Thương mại và dịch vụ; Xây dựng, Vật liệu xây dựng…
Thiếu tướng là cấp bậc cao nhất cho Tổng giám đốc Tổng Công ty
Thiếu tướng là cấp bậc cao nhất cho Tổng giám đốc Tổng Công ty.

Trực thuộc và chịu sự quản lý của Bộ Quốc Phòng, các doanh nghiệp quân đội tùy theo quân số (số lượng quân nhân, công nhân viên, nhân viên), tính chất và nhiệm vụ sẽ đóng vai trò tương đương một Quân khu/Quân chủng (Tập đoàn Viettel), Quân đoàn/Binh chủng (Các Tổng công ty), hoặc Sư đoàn (Các công ty).
Theo nghị định số 44/2005/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 5-4-2005, quy định nhóm chức vụ chuẩn và cấp bậc quân hàm cao nhất tương ứng của sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam:

(Các quân hàm Chuẩn đô đốc/Phó Đô Đốc/Đô Đốc dùng cho binh chủng hải quân)
(Các quân hàm Chuẩn đô đốc/Phó Đô Đốc/Đô Đốc dùng cho binh chủng hải quân) .

Theo đó, Tập đoàn Viettel - tập đoàn kinh tế duy nhất của quân đội - cũng là doanh nghiệp quân đội duy nhất có TGĐ giữ quân hàm Trung tướng, đó là Trung tướng Hoàng Anh Xuân - Tổng giám đốc Viettel.
Quân hàm này tương tương ứng với chức vụ Tư lệnh Quân khu/Quân chủng/Chủ nhiệm tổng cục. Quân số Viettel hiện có hơn 30.000 người, cũng tương đương 1 quân đoàn.
Hai lãnh đạo khác của Tập đoàn Viettel đã được phong quân hàm Thiếu tướng là các Phó Tổng giám đốc: Dương Văn Tính (Bí thư Đảng ủy) và ông Nguyễn Mạnh Hùng.
Tại các Tổng công ty Quân đội (tương đương các Quân đoàn/Binh chủng), chức vụ Tổng giám đốc (tương đương Tư lệnh) và Bí thư Đảng ủy (tương đương Chính ủy) của các đơn vị này, cấp bậc quân hàm cao nhất được trao là Thiếu tướng.
Các Tổng giám đốc (~ Tư lệnh) và Chính ủy kiêm Phó Tổng giám đốc của Các Tổng Công ty đã được phong hàm cấp Thiếu tướng gồm:
Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn (Binh đoàn 12):
- Thiếu tướng Lương Sỹ Nhung, Tổng Giám đốc (Tư lệnh)
- Thiếu tướng Trần Thanh Hải, Chính ủy Binh đoàn 12 kiêm Phó Tổng giám đốc.
Tổng Công ty 15 (Binh đoàn 15): Thiếu tướng Nguyễn Xuân Sang, Tổng Giám đốc (Tư lệnh)
Tổng Công ty Đông Bắc: Thiếu tướng Phạm Ngọc Tuyển, Tổng Giám đốc (Tư lệnh)
Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn: Thiếu tướng Nguyễn Đăng Nghiêm, Tổng Giám đốc (~Chuẩn Đô đốc)
Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam (VNH): Thiếu tướng Hà Tiến Dũng, Chủ tịch kiêm TGĐ
Tại các Công ty Quân đội (tương đương các Sư đoàn/Vùng hải quân/Vùng cảnh sát biển), Tổng giám đốc (tương đương Tư lệnh) và Chính ủy của các đơn vị này, cấp bậc quân hàm cao nhất được trao là Đại tá.
Theo quy định, việc bổ nhiệm chức vụ, phong, thăng quân hàm đối với lãnh đạo này là do:
- Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Chủ nhiệm Tổng cục, Tư lệnh Quân khu, Tư lệnh Quân chủng, Tư lệnh Quân đoàn và các chức vụ tương đương; phong, thăng quân hàm Trung tướng, Phó Đô đốc Hải quân, Thiếu tướng, Chuẩn Đô đốc Hải quân;
- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm các chức vụ và phong, thăng các cấp bậc quân hàm còn lại.
Theo cấp tổ chức, Quân đội Nhân dân Việt Nam từ thấp đến cao là Tiểu đội, Trung đội, Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn, Lữ đoàn, Sư đoàn (trước đây gọi là Đại đoàn), Cấp cao nhất là Quân đoàn (Binh đoàn).
Về mặt địa lý, đơn vị quân sự cao nhất là Quân khu, chỉ huy quân địa phương và một số binh đoàn, binh đội trực thuộc.
Ngày 26-6-1980, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 27, về việc Quân đội thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng kinh tế, sau đó, ngày 27-9-1980 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 579/QĐ-QP chuyển nhiệm vụ của các đơn vị lực lượng vũ trang từ huấn luyện quân sự sang nhiệm vụ xây dựng kinh tế, dưới hình thức các Công ty trong quân đội (tiền thân là các Sư đoàn/Binh đoàn).
Ngày 19-8-2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công văn số 1455/TTg-ĐMDN về việc thành lập các Tổng Công ty hoạt động theo hình thức Công ty mẹ – Công ty con trên cơ sở tổ chức lại các Công ty TNHH một thành viên thuộc Bộ Quốc phòng, nhiều công ty đã chuyển đổi thành Tổng công ty.
Năm 2012, khối doanh nghiệp quân đội (100% vốn nhà nước) đạt doanh thu hơn 221 nghìn tỷ đồng (tăng 11% so với năm 2011), lợi nhuận đạt hơn 30 nghìn tỷ đồng (tăng 27% so với năm 2011), nộp ngân sách hơn 17 nghìn tỷ đồng (tăng 24% so với năm 2011), tạo việc làm và thu nhập ổn định cho 195 ngàn người, thu nhập bình quân người lao động 8,5 triệu đồng/người/tháng...
Theo Kỳ Anh CafeF/Tranhungo9


Thứ Năm, ngày 31 tháng 1 năm 2013

Chuyện bình thường của một xã hội không bình thường

Suốt tuần qua từng tóp công nhân xưng danh "công ty cấp nước" thay nhau đào bới vỉa hè cả tuyến phố Tô Hiêu, Quận Cầu Giấy, Hà Nội  nói là "để chuyển đồng hồ nước từ trong nhà ra ngoài". Nghe đơn giản vậy, nhưng thực ra đó là cả một mưu đồ tính toán của một nhóm lợi ích. Sao lúc khác không làm, lại nhè lúc sắp Tết ? Dân đã quen với đồng hồ nước đặt bên trong nhà và đồng hồ mới lắp còn tốt sao phải thay thế?   Đã thế vừa thông báo xong là thực hiện liền khiến dân không kịp chuẩn ai cũng sợ bị cắt nước mất ăn Tết! Dân đùa: "Lại dự án đến hẹn giải ngân đây mà!" Năm nào họ đào bới vỉa hè vào dịp cuối năm khi thì lắp lại gạch, khi thì lắp đặt các loại cáp điện, ống nước ....  

Nhưng , điều tồi tệ hơn thế đã diễn ra khi mọi người nhận ra rằng cùng với việc mắc lại đồng hồ nước,  người ta đã cắt bỏ luôn toàn bộ hệ thống ống cấp nước cũ vốn có đủ áp lực mạnh chảy lên các tầng cao giúp tuyến phố này thoát cảnh "tự cung tự cấp" với những đường ống chằng chịt cùng bể ngầm, bể treo và máy bơm, thật là sướng! Những tưởng đó là niềm tự hào dù nhỏ nhoi của phố Tô Hiệu. Nhưng niềm tự hào đó đã không tồn tại được bao lâu! Giờ thì  xin mời quý ông, quý bà hãy dùng một đường nước bình thường chỉ đủ chảy vào tầng I thôi nhé! Các công đoạn còn lại xin mời quý vị "tùy nghi di tản"! 
Bằng động tác "độc quyền" bất ngờ này, phía công ty cấp nước đã "hô biến" mấy trăm hộ dân trở lại với thời kỳ  "tự cung tự cấp" của thế kỷ 20 khiến nhà nhà chỉ còn cách khẩn trương  mua sắm thiết bị , vật tư để xây lại bể chứa , lắp lại máy bơm.... Tất cả diễn ra như thể trên thế gian này không hề có chuyện Nhà cung cấp nước có nghĩa vụ phải cung cấp nước lên tầng cao cho phố phường!  

Có người thắc mắc : Lẽ nào công ty cấp nước không nhân ra sự lãng phí (của cả người dân và Nhà nước) qua việc cắt bỏ một hệ thống cấp nước đang yên lành như vậy ?  Lẽ nào họ không biết rằng hệ thống cấp nước hợp lý sẽ góp phần giảm thiểu thất thoát nước, tiết kiệm điện năng và các loại chi phí không cần thiết và cũng để đảm bảo mỹ quan đô thị ? Nếu biết thì tại sao họ hành động như những "con kiến leo cành đa" và hát mãi "bài ca xây-phá -xây" như thế? Sự thể đơn giản là , để đối lấy một món tiền nhỏ nhoi làm "quà Tết", họ sẵn sàng cho xóa sổ một hệ thống cấp nước đang vận hành tốt và coi đó như một "sáng kiến cải tiến". Nhưng thực ra đó là hành động phá hoại với đầy đủ những tội danh của nó. Trớ trêu thay, tại đất nước này, những hành động phá hoại như vậy lại được coi là thành tích góp phần nâng cao tỷ lệ tăng trưởng cao!
 
Biện pháp khác thường nói trên của cơ quan cấp nước tại Thủ đô chắc chắn không phải là một việc làm tự phát nhỏ lẻ (?) Nó cho thấy một tình trạng chung  đã ăn sâu bám rể trong toàn bộ hệ thống công quyền, đặc biệt các tổ chức kinh tế độc quyền nhà nước. Đối với họ, đó là một mánh lới kinh doanh được coi là bình thường nhằm đưa lại  những khoản "thu nhập thêm" để "động viên cán bộ công nhân viên hăng hái hoàn thành nhiệm vụ" .... Và tất cả đều được che đậy dưới những cái tên gọi là "dự án"....  Nhưng cái mất lớn hơn là ở sự xuống cấp về tư cách và đạo đức của toàn bộ đội ngũ công chức, đế một ngày kia họ không biết mình đang làm việc cho ai và vì ai. Đó là lúc sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước lâm nguy khi lòng tin của nhân dân không còn nữa./.
 

Thứ Bảy, ngày 19 tháng 1 năm 2013

Những cái "nhất thế giới" của Việt nam

Nhân dịp năm hết Tết đến, ổn cổ truy tân, xin đưa lại thông tin về những thành tích "nhất thế giới" của Việt Nam đã được phát hành rộng rãi trên các báo chính thức như Giáo Dục Việt Nam, Vietnam.net,v.v... hồi tháng 4 năm 2012 để mội người tiện đối chiến với tình hình hiện nay và năm  2013. Được biết nhiêu người Việt Nam bất ngờ trước những thông tin này, nhưng cuối cùng đều thấy là có thật.  
Đó là tỷ lệ nạo phá thai cao nhất, giá sữa, giá đất, giá thuốc cao nhất... và những thứ khác cụ thể dưới đây

Giá bất động sản Việt Nam thuộc hàng cao nhất thế giới. Giá nhà đất tăng lên hơn 100 lần trong vòng 20 năm. Giá nhà ở trung bình cao hơn 25 lần so với thu nhập bình quân hàng năm của người lao động. Đồng thời, giá nhà ở Việt Nam lớn hơn gấp 5 lần so với các nước phát triển và gấp 10 lần so với nước chậm phát triển.
Giá cho thuê văn phòng tại Hà Nội và TP.HCM vào hàng đắt đỏ nhất thế giới. TP.HCM đứng ở vị trí 27 (417 euro/m2/năm) và Hà Nội ở vị trí 32 (371 euro/m2/năm). Ở Đông Nam Á, Hà Nội và TP.HCM chỉ đắt đỏ sau Singapore (thứ 6).
Lãi suất Việt Nam “khủng” nhất thế giới. Kể từ năm 2011 và quý 1/2012, lãi suất cho vay thông thường tại Việt Nam lên tới hơn 20%/năm, cao hơn gấp từ 3 - 4 lần so với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia…
Việt Nam được xếp vào top 5 nước hạnh phúc nhất thế giới. Tuy nhiên đây mới chỉ là bề nổi. Hiện Việt Nam vừa mới vượt qua mức thu nhập thấp để lên mức trung bình. GDP bình quân đầu người của Việt Nam tính theo sức mua bằng 3/4 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/3 của Thái Lan, 1/5 của Malaysia năm.
Tỷ lệ trẻ em chết đuối ở Việt Nam cao nhất khu vực Đông Nam Á. Cứ mỗi ngày lại có 10 trẻ em tử vong vì chết đuối, độ tuổi từ 7- 15.
Việt Nam là quốc gia có tổng số phương tiện trên đầu người cao nhất thế giới, đặc biệt là xe máy. Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, tai nạn giao thông ở Việt Nam được coi là cao nhất thế giới. Mỗi ngày trung bình có 31 người chết vì tai nạn.
Việt Nam là 1 trong 2 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới nhưng gạo Việt Nam lại rẻ nhất trong số 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới, theo thứ tự là Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Mỹ và Pakistan.
Cũng với sự giúp đỡ của Google Trends có thể thấy người Việt đam mê công nghệ nhất thế giới. Thử với từ khóa "3G", Việt Nam lại đứng đầu danh sách những nước tìm kiếm từ khóa này. Thử với từ khóa "Iphon" (vì người Việt viết sai tiếng Anh) thì Việt Nam đứng số 1, còn với từ khóa đúng là iPhone thì Việt Nam đứng thứ 3.
Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về nạn gian lận click chuột trong quảng cáo (Click Fraud), lượng click gian lận chiếm tới 48.3% trong tổng lượng nhấp chuột, theo khảo sát năm 2009. Con số này bỏ xa Canada với 27.7%, Hoa Kỳ thứ ba với 25.6%. Các công ty dùng dịch vụ quảng cáo mạng phải trả tiền quảng cáo theo số lượng các cú click chuột, gian lận này khiến họ phải chịu thiệt hại nghiêm trọng.
Giá xe hơi ở Việt Nam đang đắt nhất thế giới, gấp hơn 2 lần so với các nước phát triển và khoảng 1,5 lần so với các nước trong khu vực. Để sở hữu chiếc Honda Civic 1.8, khách hàng Hà Nội phải bỏ ra trên 925 triệu đồng, đắt gấp 2 lần chi phí của người dân New York, Mỹ.
Giá bán lẻ sữa ở Việt Nam đang ở mức cao nhất thế giới: giá bán lẻ trung bình là 1,4 USD/lít, trong khi Trung Quốc là 1,1 USD, Ấn Độ: 0,5 USD, các nước Âu - Mỹ từ 0,5-0,9 USD/lít. Hiện giá sữa ở Việt Nam cao gấp đôi Malaysia và gấp 1,5 lần so với Thái Lan.
Giá thuốc Tây tại Việt Nam thuộc hàng đắt nhất thế giới. Theo khảo sát năm 2010 của Tổ chức Y tế thế giới với 7 nhóm thuốc thông dụng (trong đó có kháng sinh) cho thấy, giá thuốc tại Việt Nam cao gấp từ 5 đến 40 lần so với thế giới.
Việt Nam là nơi có giá thuốc lá rẻ nhất thế giới cũng là nơi có thể mua thuốc lá dễ nhất thế giới. Hiện giá bán tối thiểu đối với mỗi bao thuốc lá điếu bao cứng là 4.050 đồng và bao mềm là 3.450 đồng. Tỷ lệ nam giới hút thuốc ở Việt Nam thuộc hàng cao nhất thế giới với 47,8%. Việt Nam có hơn 40.000 người tử vong mỗi năm do thuốc lá.
Việt Nam đứng top 10 không khí bẩn nhất thế giới. Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123 trong bảng xếp hạng, chỉ xếp trên 9 nước khác. Về tổng thể môi trường, Việt Nam đứng vị trí 79. Yếu tố thứ ba, chất lượng nước ảnh hưởng đến sức khỏe, Việt Nam được xếp hạng 80. Lượng khói bụi và mức độ ô nhiễm tại Hà Nội gấp nhiều lần cho phép./.

Thứ Ba, ngày 09 tháng 10 năm 2012

Thấy gì qua những cột điện ở Việt Nam

Đây là một vài trong hàng trăm ngàn cột điện tại các thành phố Việt Nam lâu nay. Trên thân chúng thường nặng triễu những cuộn giây các loại chen lấn nhau trong mạng lưới điện chằng chịt ngang dọc vừa rối rắm vừa nguy hiểm!!!. Từ dưới lên trên thân cột là những họp kĩ thuật các loại trông như lính thủy đánh bộ Mỹ ra trận, trong đó có những họp đựng công tơ điện vốn là "sáng kiến" nhằm chống mất trộm điện từ thời bao cấp đến nay vẫn tiếp tục duy trì và phát triển. Nhiều cột điện xiêu vẹo nghiêng ngã như chực đổ quỵ bất cứ lúc nào. Chúng không chỉ cho thấy sự khác biệt bề ngoài so với cột điện trên thế giới mà còn nói lên cung cách quản  lý kinh tế-xã hội của đất nước này. Luôn đổ lỗi cho người tiêu dùng "thiếy ý thức trách nhiện" nhưng các nhà chức tránh dường như còn vô trách nhiệm hơn khi họ bất lực để tình trạng ngày càng xấu thêm .

Một trong những điều khó hiểu là những cuộn giây điện các loại treo lơ lững trong nắng mưa không biết để làm gì ? Người bảo để "dự trữ"... nhưng chẳng thấy sử dụng bao giờ ; kẻ khác bảo đó là "mẹo" để khai khống chi phí DA lấy tiền chia nhau,v.v....Chẳng biết thật hư ra sao (?). Có lẽ cái giá trị duy nhất của chúng (nếu có) là tạo nên sự hiếu kỳ đối với du khách ngoại quốc; dù sao, giữa phố phường đơn điệu những cột điện như thế là những "kỳ quang" !. Chỉ có các bác nông dân từ quê ra tĩnh nhìn thấy là tiếc ngẫn ngơ liền quy ra thóc xem được bao nhiêu...

Những cột điện với những mạng giây nhợ rối rắm như thế phơi bày ra giữa phố ai cũng thấy . Nhưng các khâu quản lý còn rối rắm hơn nhiều do sự chồng chéo giữa các ngành điện lực, viễn thông và giao thông công chính thì không phải ai cũng thấy. Chỉ khổ cho những đường phố cùng người dân mỗi khi các cơ quan nói trên đào bới lòng đường và vĩa hè để tiến hành "cải tạo" hệ thống của họ, mà trong quá trình đó luôn xảy ra tình trang tranh chấp lãnh địa giữa các cơ quan với nhau. Chỉ có người đi đường và người tiêu thụ điện, nước và dịch vụ viễn thông lãnh đủ mọi hậu quả . Tình trạng quản lý "chồng lấn" rối rắm càng kéo dài, những kẻ hở quản lý càng tăng lên và tất nhiên dẫn đến nhiều thất thoát trong kinh doanh là điều dẽ hiểu . Chẳng hay đã có cơ quan nào tiến hành  kiểm kê toàn bộ những công tơ điện, nước được mắc theo "thỏa thuận ngoài luồng" chưa? Với những công tơ như vậy điện, nước của nhà nước vẫn được "bán" nhưng không bao giờ thấy phiếu thu. Có nhiều trò ăn cắp tinh quái của người tiêu dùng mà nhiều trường hợp đều có sự câu kết của người trong ngành. Đó là lý do gây thất thoát lãng phí điện năng và nguồn nước khiến cho các ngành chủ quản dù liên tục tăng giá vẫn không bao giờ cắt được lỗ. Giá điện, nước và dịch vị viễn thông bán cho dân  thì cao chót nhưng chất lượng dịch vụ thì ngày càng kém hơn ! Điện có thể "mất" bất cứ lúc nào không một lời xin lỗi. Chẳng cơ quan nào đứng ra thống kê xem bao nhiêu thiết bị điện của người dân bị hư hại do cúp điện bất ngờ . Cũng chẳng ai bồi thường cho người kinh doanh bị thua thiệt vì mất điện giữa chừng. Các dịch vụ truyền hình, viễn thông, internet cũng cùng chung cảnh ngộ. Tình trạng  bấp bênh của nguồn cung điện, nước khiến người dân phải  lắp đặc các thiết bị dự phòng vừa tốn kém vừa mất mĩ quan và cũng rất huy hiểm. Có lẽ không nước nào trên thế giới lại có tình trạng nhà nhà có bể ngầm, bể treo và bơm áp, máy phát điện, bình ác quy...như ở Việt Nam. Đó là một sự lãng phí rất lớn xét trên quan điểm kinh tế-xã hội./.  


Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này