Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguồn lực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguồn lực. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, ngày 18 tháng 12 năm 2014

Tôi đi tập kết

Nhân dịp "Kỷ niệm 60 năm ngày Học Sinh miền Nam trên đất Bắc" vừa được tổ chức tại Hà Nội, chủ blog tôi mạn phép đăng lại một ký ức của bản thân trong thời kỳ đáng ghi nhớ đó (trích từ "Tản mạn cuộc đời tôi")   

Vào một ngày se lạnh cuối năm 1954 cha tôi đi họp về thông báo vắn tắt với cả nhà rằng ông sẽ phải "đi tập kết" ra miền Bắc ngay trong vài ngày tới. Ông cũng bảo chị Hai hoặc tôi cũng có thể đi sau nếu muốn. Riêng ông cần phải đi trước khi  "đối phương” tiếp quản chính quyền ở địa phương. 

Lúc đó là đứa trẻ 9 tuổi tôi chỉ hiểu láng máng có một hiệp định đình chiến  vừa được ký kết, theo đó sẽ tạm thời chia cắt đất nước làm hai miền Bắc và Nam, quê tôi thuộc miền Nam nên những người thuộc  “phe ta” sẽ phải tập kết ra miền Bắc trong khi “phe địch” tập kết vào miền Nam, đợi 2 năm nữa sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Nhưng sự thật sau này đã diễn ra hoàn toàn không đơn giản như vậy. 

Mẹ chỉ kịp chuẩn bị vài thứ để Cha lên đường. Trong khi cả nhà tôi không ai thích thú gì chuyện đi tập kết thì tôi không hiểu vì sao đã "tự quyết" sẽ ra đi. Có lẽ vì tôi đã tin rằng được đi xa là điều rất thú vị, hơn nữa chỉ 2 năm sau quay về thì có gì phải lo!  Riêng mẹ tôi dĩ nhiên  không bao giờ chịu đi đâu cả dù bất cứ điều gì xảy ra; đối với bà đó là một nguyên tắc bất di bất dịch. Sau này tôi càng hiểu rõ hơn tại sao bà không đi tập kết; đó là ruộng vườn, mồ mã, ông bà tổ tiên, là nơi chôn rau cắt rốn đúng theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng của từ này. Hơn nữa , đối với công tác chung, Mẹ ở lại thuận lợi hơn nhiều người khác. Thực tế đấu tranh trong 20 năm chia chia cắt đất nước cho thấy lựa chọn của Mẹ là đúng.  Mặc dù chính quyền  biết Mẹ là đảng viên có chồng con  tập kết ra Bắc nhưng không thể làm gì hơn ngoài việc bắt giam bà một thời gian rồi thả ra. Trong bất cứ hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn bà vẫn luôn  là chỗ dựa tin cậy của cơ sở cách mạng ở địa phương. Căn nhà của gia đình tôi vốn đã nhiều lần bị phá hủy luôn là nơi che chở của nhiều cán bộ, chiến sĩ, trong đó có nữ Bác sĩ  Đặng Thùy Trâm ngay từ những ngày đầu mới đặt chân vào chiến trường Đức Phổ. (Bà chính là người mà chị Trâm gọi là  "Mẹ"  trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm).          

Vậy là tôi đã rất lấy làm phấn chấn khi được Mẹ và chị Hai đồng ý cho đi theo đoàn người tập kết ra Bắc. Có lẽ một phần vì Mẹ biết sẽ có chị Hương con bác Bốn đi cùng và khi ra miền Bắc sẽ có Cha ngoài đó rồi. Thế là cả nhà sắp xếp quần áo và vài thứ đồ dùng đơn giản trong một chiếc ba lô nhỏ để tôi mang theo. Mẹ gọi thợ  ảnh ngoài phố huyện đến nhà chụp một tấm ảnh mà sau này trở thành vật kỷ niệm vô giá đối với gia đình tôi trong những năm đất nước chia cắt. Đó là tấm ảnh chụp cả nhà dưới gốc cây dừa non phía trước nhà. Trong bức ảnh có một chi tiết tôi nhớ mãi, đó là đúng lúc  người thợ ảnh bấm máy thì chú Lai con út trong nhà lúc đó chưa đầy một tuổi bỗng dưng tè một phát, Mẹ tôi chỉ kịp lấy tay che lại. Trong bức ảnh đó tôi mặc bộ quần sọt và áo sơ mi mới được mẹ mua cho sau nhiều lần tôi khóc đòi bằng cách nói lái "quàng -sực- ý-sa-mao" (quần sọt áo sơ mi). Bức ảnh có chị Hương con bác Bốn nhưng không có mặt Cha tôi vì ông đã ra Bắc vài ngày trước. Tấm ảnh này là kỷ niệm duy nhất còn lại của sự đoàn tụ tương đối đầy đủ nhất của gia đình tôi trong thời kỳ chia cắt đất nước.   

Thoáng cái  đã đến lúc lên đường. Tôi hớn hở vô tư xách chiếc ba lô chạy theo đoàn người đi bộ ra thị trấn Đức Phổ. Số người đưa tiễn rất đông, tất nhiên có cả Mẹ và chị Hai trong đó. Tôi nhớ rõ lúc ấy không hề có cảm giác lo buồn hay do dự, chần chừ...  mà chỉ thấy háo hức ra đi với một niềm tin tất nhiên sẽ có ngày trở lại, đâu có biết rằng chuyến đi ấy là một bước ngoặc quan trọng như thế nào đối với cuộc đời tôi với một thời kỳ ly biệt gia đình kéo dài hơn 20 năm liền sau đó. Đó cũng là tình trạng chia cắt của hàng vạn gia đình miền Nam tập kết ra miền Bắc thường được mô tả trong rất nhiều tác phẩm văn thơ, âm nhạc, hội họa một thời.

Tháng 12/1954 tại Phổ Cường, Đức Phổ, Quảng Ngãi 
Họ Trần gặp nhau tại Hà Nội cuối năm 1955




















Đoàn người tập kết đợt ấy gồm chủ yếu trẻ em trên  dưới 10 tuổi được biên chế thành nhiều nhóm nhỏ có người lớn kèm cặp. Biết cùng đi có chị Hương, nhưng tôi đã dường như không hề có ý thức sẽ dựa dẫm vào chị ấy, và có lẽ đó  là dấu hiệu đầu tiên của tính tự lập mà sau này tôi thấy ngày càng rõ như một bản năng trong tôi vậy. 

Vào quảng 1 giờ chiều cả đoàn lên xe cam-nhông-ray (một loại xe bánh sắt chạy trên trên đường sắt thời đó) và đến Quy Nhơn quảng 7-8 giờ tối . Chúng tôi được đưa đến một khu nhà rất rộng giống như nhà kho ở cảng. Nhà không chia thành phòng nhỏ mà chỉ có một phòng to bên trong kê toàn dát gường hoặc phản gỗ san sát với nhau;  mỗi người được phân  cho một lô có  chiếu và một tấm mền mỏng. Buổi tối đèn điện sáng choang khiến không khí rất vui vẻ. Sau khi ổn định chỗ ở thì có những tiếng khóc đây đó của những người nhớ nhà. Sau bữa cơm tối tập thể, mọi người được yêu cầu đi ngủ sớm nhưng ít ai ngủ được ngay, nhiều người tranh thủ ra phố dạo chơi, và tôi cũng đi theo họ. Đó là lần đầu tiên tôi được đi dạo phố cảng Quy Nhơn nên cảm thấy rất thích thú. Thích nhất là chỗ nào cũng có ánh sáng điện không tối như ở quê.

Sau 3 ngày thì có một chiếc tàu thủy đến đón. Mọi người gọi nó là “tàu há mồm” của nước bạn Ba Lan. Đúng là chiếc tàu chỉ có một cánh cửa rộng mở về phía bờ giống như miệng cá vậy. Chúng tôi xếp hàng kéo nhau chui vào cái mồm đang mở hết cỡ của nó và cứ thế đi vào bụng nó. Hai bên cửa và dọc sườn tàu có những chú lính thủy cao lớn, da trắng tóc vàng mắt xanh mũi lõ trông lạ lẫm và oai phong. Mỗi khi có ai trượt ngã hay mang vác cái gì nặng thì lập tức họ đến giúp. Bên trong tàu khá rộng nhưng ít giường nằm và những băng ghế gỗ gắn xung quanh. Mọi người có thể ngồi hoặc nằm ngay trên sàn tàu. Tôi thấy như vậy cũng là tốt lắm rồi, nhưng còn phải đợi xem mình sẽ có bị say sóng không đã. Trước khi đi mọi người nói nhiều về say sóng làm  tôi cũng thấy lo lo.

Không đầy 1 giờ sau, mọi thủ tục đã xong, mồm chiếc tàu từ từ khép lại và bên trong nó giống như một cái hầm khổng lồ. Con tàu nhổ neo ra khơi chòng chành lắc lư… Tôi thấy một số người lớn đứng bên trên cùng với các chú thủy thủ; họ nhìn ra ngoài chỉ trỏ, vẫy tay. Con tàu  nhanh chóng ra khơi và  không khí trong tàu trở nên trầm lắng buồn hẳn đi. Lúc đó tôi thấy tiếc là vừa rồi đã không lên đứng trên boong để nhìn xem con tàu đã rời bến như thế nào.

Tàu đi được quảng 40 phút thì tôi bắt đầu có cảm giác buồn nôn. Đúng là sự chòng chành  của nó khiến tôi thấy mình như bị nâng lên hạ xuống, chao đảo liên tục. Có lẽ gần nửa số người trên tàu đều lần lượt bị say sóng. Người nôn ọe, kẻ cố kìm nén … Nôn mửa thì tôi đã biết, nhưng nôn mửa do say sóng thì đây là lần đầu. Nó thật khó chịu làm sao; đầu nặng như búa bổ, trong bụng dù không còn gì mà vẫn phải nôn ọe thật khó chịu, đúng như người ta nói  nôn cả mật xanh, miệng đắng ngắt. Cũng may mà sau đó tôi đã ngủ thiếp đi để không còn biết cảm giác trời đất gì nữa. Có lẽ mãi đến trưa ngày hôm sau tôi mới tỉnh dậy trong tiếng ồn ào của mọi người và luồng ánh sáng tràn vào từ trên boong tàu. Chỉ đến lúc này những người say sóng mới lấy lại được bình tĩnh và thấy đói bụng.  Cũng như họ, tôi  mở túi lấy một vài thứ để ăn cho đỡ đói và đỡ buồn. Không khí trong khoang tàu bắt đầu trở nên vui vẻ hơn và mấy chú lính Ba Lan cũng bắt đầu nháy mắt thân thiện với mọi người. Hồi đó tôi chưa biết thế nào là đi du lịch nhưng bây giờ nhớ lại thấy đó cũng giống như một cuộc đi du lịch đường biển vậy thôi, chỉ khác chăng là không mất tiền mua vé nên không được ngồi hoặc nằm trong các cabin tiện nghi như bây giờ!

Hôm đó, dù vẫn còn sợ say sóng, tôi đã cố leo lên boong tàu để ngắm biển. Biển xanh mênh mông không thấy bến bờ thật đẹp làm sao! Trước mắt tôi hoàn toàn một cảnh tượng khác hẳn với những gì tôi đã thường thấy quanh nhà mình: không đồng ruộng, không cây cối và không bị che khuất bởi các dãy núi, tất cả chỉ là một màu xanh biếc dính liền với màu xanh nhạt hơn ở tận cùng của nó. Tôi tự hỏi không biết cái gì ở tận cuối cùng kia, sao đi mãi vẫn không tới ? Đẹp lạ lùng nhất là khi mặt trời lặn; một quần lửa đỏ rực từ từ chui xuống mặt biển nước xanh đen thật kỳ diệu! Tôi định bụng sáng mai nhất định phải lên xem mặt trời mọc thế nào.  Thế nhưng đêm đó tôi lại đã ngủ quá say, khi tỉnh dậy mặt trời đã lên cao nên không thể so sánh với lúc nó lặng hôm qua. Tiếc thật! Thời gian còn lại của chuyến đi tàu ấy thật là thú vị. Sau lần say sóng ngày đầu tiên, tôi đã không say nữa,  nhờ thế mà cảm nhận được sự thú vị của chuyến đi. Cho đến nay mà nói, đó vẫn là chuyến đi biển dài ngày nhất của tôi.

Có lẽ sau gần đúng 3 ngày 2 đêm thì tàu chúng tôi đến một nơi mà sau này tôi mới biết là bến Cửa Lò thuộc tỉnh Nghệ An. Tàu to quá không thể cập sát bờ được mà phải thả neo đậu lại cách bờ khá xa. Ngay lúc đó tôi thấy có hàng chục chiếc thuyền buồm cập sát hai bên sườn tàu. Họ đến để “trung chuyển”  chúng tôi lên bờ. Những người thủy thủ Ba Lan ra hiệu cho chúng tôi nhanh chóng thu gom hành lý và xuống tàu. Lúc này tàu không mở cửa  theo kiểu  há mồm như  khi đậu ở cảng Quy Nhơn nên chúng tôi phải trèo lên boong  sau đó phải đi thang dây để xuống các thuyền nhỏ đang cặp sát bên dưới. Lúc đầu mọi người thoáng thấy lo ngại: đi được lên boong tàu đã khó, đi xuống còn bằng thang dây du đưa lại còn khó hơn. Ngay lúc đó những người lính Ba Lan đã nhanh chóng dẫn dắt từng người một để thực hiện được từ đầu đến cuối quá trình  trung chuyển ngoạn mục đó. Ai khỏe và nhanh nhẹn thì họ chỉ dìu dắt là đi được, ai yếu hoặc dút dát thì họ bế thốc lên và chuyền tay nhau đưa đi như một đồ vật một cách êm nhẹ và an toàn tuyệt đối. Bọn trẻ chúng tôi đa số thuộc loại “đồ vật” như thế! Một lúc sau tôi đã thấy mình ngồi trên một chiếc thuyền buồm với vài chục người khác. Mọi việc nhanh đến mức không còn thời gian để mà sợ.

Điều khiển con thuyền là 3-4 người dân chài địa phương. Họ mặc quần áo nâu, chân đất, đầu không đội mũ nón gì. Điều lạ lẫm đầu tiên với tôi là giọng nói của họ: tuy biết họ là "người ta" nói "tiếng ta" nhưng không thể nào hiểu đích xác họ nói gì trong suốt cả chuyến đi vào bờ kéo dài độ 40 phút. Tôi bất giác có cảm nhận khá rõ ràng là, từ nay mình đã ra khỏi lũy tre làng, rời  khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, không còn được sống trong căn nhà cùng với cha mẹ anh chị em ...để bắt đầu một cuộc đời hoàn toàn mới lạ nơi đất khách quê người. Như một chú dế mèn, tôi cũng đang bước vào một cuộc phiêu lưu với những điều mới lạ khó đoán định ở phía trước.

Hà Nội, ngày 15/12/2014

Thứ Tư, ngày 17 tháng 12 năm 2014

Cuộc dịch chuyển lịch sử của hơn 32.000 học sinh miền nam



VN net, 14/12/2014: Năm 1954, hiệp định Giơnevơ được ký kết. Cùng với việc tập kết bộ đội và cán bộ miền Nam ra Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ chủ trương đưa học sinh từ 6 -7 tuổi cho đến 19-20 tuổi là con em cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền Nam từ các địa phương ra miền Bắc học tập. Nhiệm vụ là đào tạo thành đội ngũ kế cận cho cách mạng miền Nam cũng như cách mạng cả nước sau này.Từ năm 1954 đến 1975, hơn 32.000 học sinh miền Nam lần lượt theo xe bộ đội, đi tàu thủy, đi bộ vượt dãy Trường Sơn… ra miền Bắc học tập. Hàng chục nghìn người trưởng thành lại trở về xây dựng miền Nam.

Khi ông Hoàng Quốc Việt dẫn đầu đoàn đại biểu vào Nam nắm tình hình chuyển quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "…Nhắc nhở các cấp, các ngành quân, dân, chính ở miền Nam thực hiện nghiêm túc và chuẩn bị chu đáo việc đưa thiếu nhi, học sinh miền Nam tập kết theo đúng tiêu chuẩn, chính sách, khẩn trương và đảm bảo an toàn".
Học sinh trường số 18 Hải Phòng. Thời kỳ đó, Hải Phòng được gọi là thủ đô của học sinh miền Nam với tổng cộng 10 trường học sinh miền Nam trên đất Bắc. Ảnh:Tư liệu.

Từ năm 1954 đến 1975, hơn 32.000 học sinh miền Nam bằng nhiều con đường như theo bộ đội tập kết, đi tàu thủy ra Thanh Hóa, Hải Phòng, đi bộ vượt Trường Sơn... lần lượt ra vùng giải phóng. Những "hạt giống đỏ" năm xưa nằm trong diện tập kết do Bộ Giáo dục quản lý bao gồm: con em cán bộ miền Nam theo cha mẹ tập kết, học sinh có thành tích cao, con liệt sĩ. Ngoài ra, còn có học sinh vượt tuyến, học sinh miền Nam (Bình Trị Thiên, liên khu V) được ra Bắc học trong kháng chiến, nhưng không có cha mẹ ở miền Bắc và không liên lạc được với gia đình để có tiền tiếp tục ăn học. Một số cán bộ, bộ đội dưới 18 tuổi cũng được cho đi học văn hóa.

Thời gian đầu, học sinh được đón tiếp ở Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Hội (Nghệ An). Chỉ trong 2 tháng cuối năm 1954, hơn 5.000 học trò miền Nam đã ra Bắc học tập. Sau này học sinh đông, các địa phương trên không đáp ứng được nơi ăn ở, chăm sóc y tế, trường lớp. Bộ Giáo dục và các bộ ngành liên quan được giao nhiệm vụ xây dựng những trường nội trú "thuận tiện giao thông, gần Hà Nội, gần Hồ Chủ tịch, gần Chính phủ" dành riêng cho học sinh miền Nam ăn học.

28 trường học sinh miền Nam (tên trường được gọi theo số thứ tự từ 1 đến 28) được thành lập ở các địa phương xung quanh Hà Nội, như: Hà Tây (cũ), Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nam… Nơi có nhiều trường nhất gồm Hà Đông (12 trường), thành phố Hải Phòng (10 trường). Ngoài ra, còn có các trại nhi đồng miền Nam và khu học sinh ở Quế Lâm, Nam Ninh (Trung Quốc) và hàng nghìn học sinh được gửi đi đào tạo ở Liên Xô, Đức.

Quy trình đào tạo học sinh miền Nam từ cấp nhà trẻ mẫu giáo, liền mạch đến trung học chuyên nghiệp, đại học. Những người có năng lực thì được chọn đi học cao hơn để về phục vụ đất nước. Học sinh miền Nam được đào tạo đa dạng các ngành nghề khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học quân sự, từ công nhân kỹ thuật thực hành đến chuyên gia nghiên cứu. Phương pháp đào tạo là tổ chức các trường nội trú, cùng nuôi dưỡng và dạy học.
Hơn 600 thầy cô giáo hai miền Nam Bắc gặp mặt trong buổi tri ân các thầy cô từng dạy học trò miền Nam trên đất Bắc chiều 13/12 do Bộ GD&ĐT tổ chức. Ảnh: Hoàng Phương.

Thực hiện tinh thần "Tất cả vì học sinh miền Nam thân yêu", đội ngũ giáo viên giảng dạy được lựa chọn kỹ càng, đào tạo bài bản, có trình độ và khả năng sư phạm. Đội ngũ này xuất phát từ hai nguồn, hoặc là giáo viên tập kết, lão luyện tay nghề, hoặc thầy cô được đào tạo ở các trường sư phạm miền Bắc, hoặc ở Trung Quốc để dạy học sinh miền Nam. Thầy cô cũng phải tạm xa gia đình, cùng ăn cùng ở, vừa giảng dạy vừa thay người thân chăm lo cho học trò miền Nam.

Trong những ngày đầu tập kết, chưa xây dựng được trường lớp, người dân miền Bắc dù còn nhiều khốn khó đã nhường cơm, sẻ áo, đùm bọc, đón nhận những đứa con của đồng bào, đồng chí miền Nam. Ngược lại, học sinh miền Nam cùng nhân dân miền Bắc khắc phục khó khăn, tiếp sức cho miền Nam đánh giặc. Các lứa học sinh miền Nam đã góp sức lao động sản xuất, đắp đê Gia Lương (Hà Bắc) bị vỡ, nạo vét kênh dẫn nước chống hạn hán ở Chương Mỹ (Hà Nội),

Có mặt trong buổi Nhà báo Đức Lượng, nguyên Phó tổng biên tập báoNhân dân chia sẻ: "Ngày ấy, nhân dân miền Bắc mới được giải phóng, vừa cải cách ruộng đất, vừa khôi phục hòa bình, đời sống còn nhiều khó khăn. Nông dân huyện Quảng Xương (Thanh Hóa), nơi chúng tôi đặt chân đến còn đang đói. Khoai lang vừa bói củ bằng ngón tay đã phải dỡ lên ăn. Người già ốm đau, trẻ con được bát cháo hoa là điều hiếm lắm. Vậy mà chúng tôi có tất cả để ăn học nên người". Còn diễn viên điện ảnh, nghệ sĩ nhân dân Trà Giang (học sinh miền Nam tập kết ra Bắc năm 1955) gọi quãng thời gian học trường miền Nam ở Hải Phòng là những tháng năm tươi đẹp nhất đời.

Năm 1975, miền Nam được giải phóng, các học sinh được đưa trở lại quê hương tiếp tục học tập, công tác, một số ở lại miền Bắc làm việc và xây dựng gia đình. Các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc cũng dần đóng cửa. Cuộc dịch chuyển học sinh quy mô lớn nhất lịch sử được đánh giá thành công trên cả ba phương diện: đào tạo con người, mô hình giáo dục và chiến lược đào tạo lâu dài.

Phần lớn học sinh miền Nam sau tốt nghiệp phổ thông trung học được tuyển vào các trường đại học, cao đẳng trên cả nước và cử đi đào tạo ở nước ngoài. Đến năm 1975, hơn 15.000 học sinh miền Nam được đào tạo qua bậc đại học và sau đại học ở các trường đại học trong và ngoài nước.

Nhiều người trở thành cán bộ cao cấp trong chính quyền, như các ông Trương Quang Được, nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng; bà Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em; ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Thượng tướng công an Nguyễn Khánh Toàn; đại tá phi công Nguyễn Văn Nghĩa, nguyên Hiệu trưởng trường Hàng không Việt Nam. Nhiều học sinh miền Nam ra Bắc khi còn tuổi nhi đồng, sau này làm rạng danh học sinh miền Nam, như Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Kso Phước...
Thầy giáo và các học sinh trường Nguyễn Văn Bé đóng tại Quảng Tây (Trung Quốc) hội ngộ tại Hà Nội. Ảnh: Hoàng Phương.

Chia sẻ trong buổi tri ân thầy cô từng dạy học trò miền Nam trên đất Bắc chiều 13/12, GS.TS Lê Du Phong, nguyên Hiệu trưởng ĐH Kinh tế quốc dân, Trưởng ban liên lạc học sinh miền Nam trên đất Bắc khẳng định: "Các thế hệ học sinh miền Nam dù ở đâu, trên cương vị nào cũng không bao giờ quên công ơn của Đảng, Bác Hồ, các thầy, cô, chú đã nuôi dưỡng, tình cảm của đồng bào miền Bắc dành cho các thế hệ học trò miền Nam. Có học sinh trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã dặn dò anh em rằng 'Hãy ghi trên bia mộ tôi là học sinh miền Nam và nhớ khi gặp lại thầy cô, cho tôi gửi lời thăm hỏi và xin lỗi vì những điều đã làm các thầy cô phiền lòng".

Về mô hình giáo dục, dù chỉ tồn tại 21 năm (1954–1975), các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc được đánh giá là đã góp phần đào tạo hàng chục nghìn người con ưu tú đáp ứng yêu cầu cung cấp cán bộ, nhân tài cho các ban ngành, địa phương của miền Nam và trên cả nước. Trường học sinh miền Nam là mô hình, phương pháp tổ chức, đào tạo giáo dục của một loại hình giáo dục đặc biệt để lại nhiều bài học cho ngành trong chiến lược trồng người của đất nước.

Việc đưa học sinh miền Nam ra ngoài Bắc học tập được coi là quyết sách đúng đắn, kịp thời, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc chuẩn bị đội ngũ cán bộ phục vụ cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, đặc biệt là việc xây dựng lại miền Nam khi nước nhà thống nhất. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng đánh giá: "Đây là vườn ươm đặc biệt, ươm những hạt giống quý báu vào bậc nhất mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân miền Bắc đã dành cho miền Nam từ những ngày gian khó".

Hoàng Phương

Chủ Nhật, ngày 07 tháng 12 năm 2014

THẤY GÌ TỪ NHỮNG CON SỐ?

THEO CÁC NGUỒN THÔNG KÊ TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ VIỆT NAM CÓ NHỮNG TIỀM NĂNG RẤT CƠ BẢN, ĐÓ LÀ

Dân số
image
Việt Nam hiện nay có dân số ước tính khoảng hơn 93 triệu người, đứng hàng thứ 13/243 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Dân số là một trong những chỉ số chủ yếu được dùng để đánh giá độ lớn và nhỏ của một quốc gia, vậy xếp thứ 13 có nghĩa là VN thuộc loại "nước lớn" của thế giới.

Diện tích
image
Việt Nam có tổng diện tích đất liền khoảng 331,210 km2, đứng hàng thứ 61/189 quốc gia trên thế giới. Diện tích quốc gia cũng là một trong những chỉ số chính dùng để đánh giá độ lớn của quốc gia, do đó vị trí thứ 61, cho thấy Việt Nam thuộc nhóm 1/3 quốc gia lớn của thế giới. 

Biển và duyên hải
image
Việt Nam là một quốc gia có địa thế rất đặc biệt, toàn bộ mặt phía Đông giáp biển với vùng duyên hải dài  3,444 (thuộc loại dài nhất thế giới), phía Tây tựa lưng vào cao nguyên và dãy Trường Sơn hùng vĩ tạo nên thế phong thủy lý tưởng.  Như vậy Việt Nam thuộc loại có nhiều lợi nhất thế giới
trong khi 47 quốc gia khác không có biển và 35 quốc gia khac tuy có biển nhưng chiều dài duyên hải dưới 100 km. 

Rừng 
image
Việt Nam có tổng số diện tích rừng 123,000 cây số vuông đứng thứ 45/192 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới . Rừng Việt Nam được xếp loại rừng có hệ sinh thái đa dạng và đặc biệt và mặc dù đã bị khai thác một cách bừa bãi, nó vẫn nằm ở vị trí 1/3 các quốc gia đứng đầu về diện tích rừng. 

Đất canh tác:
image
Việt Nam có tổng số đất canh tác là 30,000 cây số vuông, đứng hàng 32/236 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Tổng số lượng lúa được Việt Nam canh tác đứng hàng thứ 5 trên thế giới trong số 20 quốc gia canh tác lúa gạo. Xét về mặt đất canh tác (và đặc biệt canh tác lúa gạo), Việt Nam không phải là kém.

Tóm lại, VN sở hữu "rừng vàng biển bạc" và có điều kiện nhân hòa địa lợi.

TUY NHIÊN VIỆT NAM LUÔN TRONG TÌNH TRẠNG YẾU KÉM TRONG CÁC LĨNH VỰC 

Giáo dục, đào tạo
image
Theo chỉ số Human Development, Việt Nam đứng hàng 121/187, có nghĩa là dưới trung bình. Không có một trường đại học nào của Việt Nam được lọt vào danh sách trường đại học có danh tiếng và có chất lượng.

Bằng sáng chế phát minh:
image
Theo International Property Rights Index [8], Việt Nam đứng hàng 108/130 tính theo giá trị trí tuệ, có nghĩa là gần đội sổ.

Ô nhiễm môi trường
image
Theo chỉ số ô nhiễm, Việt Nam đứng ở vị trí 102/124, gần đội sổ danh sách.

Thu nhập tính theo đầu người
image
Tuy thu nhập quốc gia của Việt Nam đứng hàng 57/193, nhưng đứng hàng 123/182 quốc gia tính theo thu nhập bình quân đầu người. Có nghĩa là về mặt quốc gia Việt Nam không nghèo lắm nhưng của cải chạy đâu hết không đến tay người dân.

Tham nhũng
image
Theo chỉ số tham nhũng mới nhất của tổ chức Transparency International, Việt Nam đứng hàng 116/177 có nghĩa là thuộc 1/4 quốc gia cuối bảng.

Tự do ngôn luận
image
Theo chỉ số tự do ngôn luận (freedom of press), Việt Nam đứng vị trí 174/180, chỉ hơn Trung Quốc, Bắc Hàn, Syria, Somalia, Turkmenistan và Eritrea, có nghĩa là nằm trong nhóm 1/20 thấp nhất thế giới.

Phúc lợi xã hội
image
Theo chỉ số phát triển xã hội, Việt Nam không có trong bảng vì không đủ số liệu để thống kê. Trong khi đó, theo chỉ số chất lưọng sống (Quality of Life) thì Việt Nam có điểm là 22.58, đứng hàng 72/76, có nghĩa là gần chót bảng.

Y tế
image
Theo chỉ số y tế, sức khoẻ, Việt Nam đứng hàng 160 trên 190 quốc gia, có nghĩa Việt Nam đứng trong nhóm quốc gia yếu kém nhất về y tế.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ, TẠI SAO MỘT QUỐC GIA CÓ KHÁ ĐẦY ĐỦ TIỀM NĂNG NHƯNG KÉM PHÁT TRIỂN VÀ PHÁT TRIỂN CHẬM,THẬM CHÍ NGÀY CÀNG TỤT HẬU SO VỚI PHẦN CÒN LẠI CỦA THẾ GIỚI, ĐẶC BIỆT SO VỚI CẢ CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC LÁNG GIỀNG ?

Thứ Ba, ngày 25 tháng 11 năm 2014

Có một giới siêu giàu khác

Wealth - X và Ngân hàng Thụy Sĩ (UBS) vừa công bố báo cáo những người siêu giàu trên thế giới năm 2014. Trong đó Việt Nam có 210 đại diện với tổng tài sản trị giá 20 tỉ USD. Theo tiêu chí của Wealth - X và UBS, người siêu giàu là người có tài sản trên 30 triệu USD.

Thứ Sáu, ngày 21 tháng 11 năm 2014

Sự cố mất quyền điều hành bay là 'chưa từng có trên thế giới'


VN-Express 21/11/11/2014: Các chuyên gia trong ngành hàng không cho rằng sự cố mất điện tại Đài kiểm soát không lưu Tân Sơn Nhất là "quá sức nguy hiểm" và "thế giới không bao giờ có chuyện sân bay mất điện lâu thế".


Thứ Năm, ngày 20 tháng 11 năm 2014

Những vị "khách không mời" đến thăm nhà Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh

Ghi nhanh của Cựu Đại tá Nguyễn Đăng Quang người có mặt trong cuộc thăm
Chiều 19/11/2014 Hà Nội đã vào cuối thu, lạnh. Tôi tranh thủ đến thăm sức khỏe lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh. Tôi quen biết cụ đã gần 40 năm nay và rất kính trọng và khâm phục cụ về nhân cách, đạo đức cũng như tấm lòng của cụ đối với dân và đất nước. Dù năm nay đã 99 tuổi song cụ vẫn nhanh nhẹn, khỏe mạnh và minh mẫn! Mặc dù hơn tôi 26 tuổi song cụ vẫn coi tôi là một người bạn vong niên thân thiết. Tiếp tôi, ngoài cụ còn có con gái cụ là nhà văn Nguyên Bình và chồng chị là anh Trịnh Văn Trà, một đại tá quân đội đã nghỉ hưu.
Tôi đứng lên chào và xin phép cụ ra về vì đã tâm tình và trò chuyện với cụ hơn một tiếng đồng hồ thì cụ bảo tôi cố nán lại ít phút để dự buổi cụ tiếp đoàn khách của Thành ủy Hà Nội đến thăm cụ.

Thứ Tư, ngày 19 tháng 11 năm 2014

Báo SGGP thiếu khách quan

Ngày 4/11/2014 Báo SGGP đăng bài: Sự thật về lòng "trung thành" của của nhóm thư ngỏ 61. Xem tại đây: 
http://www.sggp.org.vn/xaydungdang/2014/11/366020/

Bài báo đã đưa ra những đánh giá chủ quan, phiến diện và áp đặt những "tội danh" không có thực đối với các đảng viên có tên trong "bức thư ngỏ 61" như "mượn danh đảng viên và yêu nước"..."tiếp tay cho Việt Tân và các tổ chức phản động", v.v... 

Thứ Bảy, ngày 15 tháng 11 năm 2014

Nghi án “hoa hồng” và Đại tướng quân xứ người

- 15/11/2014Cả hai vụ có “yếu tố nước ngoài”, dù xấu tốt, hay dở khác hẳn nhau, nhưng đều cho thấy tư duy quản lý, nền quản trị quốc gia từ vĩ mô tới vi mô của nước Việt đang phải “Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước/ Chọn một dòng hay để nước trôi?”

Chọn dòng tư duy văn minh, văn hóa mềm dẻo, thực tiễn của nhân loại hay… ngược lại.
I-Nổi bật trong tuần có hai vụ việc, một dở, một hay, đều liên quan đến “yếu tố nước ngoài”, đều gây sốc, nhưng dư âm của nó, như tên gọi một ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý xa xưa thuở nào, thì đều rất… đáng buồn
Xin nói về chuyện dở trước.

Thứ Tư, ngày 12 tháng 11 năm 2014

VN "lạm phát tướng"?

Gs Nguyễn văn TuấnTheo FB Nguyen Tuan
Nhiều năm trước, một anh bạn làm nghề báo chí nhưng không hẳn là kí giả, đưa ra một nhận xét làm tôi giật mình. Anh nói với tôi: "Ông nói nhiều về lạm phát con số giáo sư và tiến sĩ, nhưng ông không chú ý là VN còn lạm phát về tướng tá." 

Thứ Hai, ngày 03 tháng 11 năm 2014

Mô hình phát triển nào cho Việt Nam

Tư Giang(TBKTSG) -1/11/2014


 Câu chuyện về cái đuôi định hướng

Một ngày cuối năm 2013, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên nhận được một câu hỏi của nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển: “Quy luật chính của kinh tế thị trường là gì?”. Ông Thiên, sau một hồi suy nghĩ, đáp ngắn gọn “cạnh tranh”.

Chủ Nhật, ngày 02 tháng 11 năm 2014

Tiền nhân đã dạy: "Khôn thì sống, mống thì chết"



Tác giả: Ngọc Quang Báo GDVN ngày 31/10/2014 - 

Nếu chúng ta giao quyền, giao tài sản cho những người kém cỏi về năng lực và đạo đức, lại tham lam... thì làm sao tránh khỏi lệ thuộc, thậm chí là mất nước

Sáng nay, Luật sư Trương Trọng Nghĩa - Đại biểu đoàn TP.HCM đã có một phát biểu làm nóng nghị trường khi đề cập thẳng tới quan hệ kinh tế với Trung Quốc và chuyện hàng nghìn lao động phổ thông Trung Quốc tràn vào Việt Nam.

Thứ Sáu, ngày 31 tháng 10 năm 2014

Tư liệu: Tình trạng nợ nần của VN


Theo VN-Express 30/10/2014,   Lần đầu tiên nhiều số liệu chi tiết về nợ công được người đứng đầu ngành tài chính công bố tại diễn đàn Quốc hội.
Bo-truong-tai-chinh-1622-1414662954.jpg
Bộ trưởng Tài chính cho biết tỷ lệ nợ công sẽ bắt đầu giảm từ năm 2017.
Câu chuyện nợ công vốn đã được Quốc hội thảo luận suốt nhiều kỳ họp, một lần nữa khiến dư luận quan tâm khi báo cáo tình hình 2014 của Chính phủ đưa ra nhận định nợ công đang tăng nhanh. Liên tiếp tại các phiên họp tổ, các buổi góp ý chuyên đề cũng như trong suốt phần thảo luận kinh tế - xã hội ngày 30/10, hàng loạt câu hỏi, ý kiến xung quanh vấn đề quản lý nợ được các đại biểu đặt ra.
Đáp ứng yêu cầu này, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng được đề xuất là thành viên Chính phủ đầu tiên tham gia ý kiến về vấn đề này. Báo cáo của ông trước Quốc hội, đúng như kỳ vọng, đã lần đầu tiên cho thấy một bức tranh khá toàn diện về tình hình tài chính quốc gia.
Lần dở lại lịch sử, vị trưởng ngành cho biết khái niệm nợ công chỉ thực sự có ý nghĩa đối với hệ thống quản lý tài chính Việt Nam từ năm 2010, khi Luật Quản lý nợ công chính thức có hiệu lực. Trước đó, các chỉ tiêu quản lý khác là nợ Chính phủ hay nợ quốc gia đều ở mức khá thấp (31-38% GDP) và chỉ thực sự tăng mạnh từ năm 2009, khi Việt Nam tích cực đi vay để kích cầu.
Những năm sau đó, kinh tế khó khăn, nguồn thu bị cắt giảm để hỗ trợ doanh nghiệp trong khi các khoản chi cho an sinh, các chương trình mục tiêu quốc gia… không thể cắt giảm khiến cho cơ quan quản lý phải thắt chặt túi tiền dành cho đầu tư. Tỷ trọng chi cho lĩnh vực này giảm từ 21,6% năm 2010 xuống mức 16-17% tổng chi hiện nay. Để bù đắp, Chính phủ phải phát hành 170.000 tỷ đồng trái phiếu trong 3 năm 2014-2016, bên cạnh con số 225.000 tỷ đã được Quốc hội phê duyệt trước đó cho giai đoạn 2011-2015.
Chính điều này đã đẩy nợ công tăng cả về tỷ lệ lẫn số tuyệt đối, từ mức 50% năm 2011 lên 64% GDP năm 2015 (tốc độ tăng nợ khoảng 18-25% một năm).
Điểm tích cực của việc vay nợ những năm qua được Bộ trưởng thông báo là tăng tỷ lệ vay trong nước, giảm phụ thuộc vào nước ngoài, lãi suất trái phiếu Chính phủ cũng có xu hướng đi xuống. Tuy nhiên, ông Đinh Tiến Dũng cũng cảnh báo về các khoản vay trong nước đều có kỳ hạn ngắn. Điều này đồng nghĩa với áp lực trả nợ giai đoạn 2015-2016 là rất cao.
 Infographic: Việt Nam đang vay nợ như thế nào ?
VietnamVayNoNhuTheNao-500x300-7416-14146
Dù cho biết đến nay, Việt Nam luôn đảm bảo trả đầy đủ, kịp thời các khoản đến hạn, không phát sinh nợ xấu, song Bộ trưởng Tài chính cũng thừa nhận cơ cấu nợ hiện không bền vững. Cơ quan điều hành phải phát hành trái phiếu đảo nợ với tổng số tiền dự toán trong vòng 3 năm qua khoảng 137.000 tỷ đồng.
Cụ thể, số phát hành năm 2012 là 20.000 tỷ, 2013 là 40.000 tỷ và theo dự toán năm 2014 là 77.000 tỷ. "Nếu thu ngân sách vượt lên theo báo cáo Quốc hội, có thể bố trí vào thì con số của năm 2014 có thể giảm đi. Còn dự toán năm 2015 là 130.000 tỷ", Bộ trưởng cho biết.
Từ thực tế này, đại diện ngành tài chính cũng đưa ra kế hoạch khá chi tiết cho chiến lược vay nợ của Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2020. Cụ thể, với mức bội chi dự kiến 4-5% một năm, kế hoạch phát hành 145.000 tỷ đồng trái phiếu trong vòng 2 năm tới, Chính phủ dự kiến sẽ phải bán thêm khoảng 50.000 tỷ đồng trái phiếu mỗi năm cho giai đoạn 2017-2020.
Cùng với đó, Chính phủ sẽ tiếp tục phải vay nước ngoài (chủ yếu là ODA, vay ưu đãi…) 5-6 tỷ USD một năm, trong đó số đi vay để cho doanh nghiệp vay lại 1,5-2 tỷ USD. Các khoản bảo lãnh cho doanh nghiệp đặc thù (dầu khí, điện, hàng không…) vay để làm các dự án trọng điểm cũng khoảng 3-4 tỷ USD mỗi năm, bảo lãnh cho các định chế tài chính đặc thù phát hành trái phiếu 60.000-70.000 tỷ một năm… sẽ cùng với khoản nợ của chính quyền địa phương (cao thêm 30.000-45.000 tỷ mỗi năm) tác động tới nợ công.
Tuy vậy, với giả định GDP tăng trưởng 6,2-6,8% mỗi năm trong giai đoạn 2015-2020, lạm phát khoảng 5-6%, bội chi giữ ở mức 4-5%, Chính phủ dự kiến nợ công sẽ tiếp tục tăng và đạt đỉnh vào năm 2017 (64,9% GDP) và giảm dần sau đó. Đến 2020, cơ quan điều hành kỳ vọng nợ công sẽ về mức 60,2% GDP.
Với những tính toán nêu trên, kết thúc phần phát biểu tại nghị trường, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng một lần nữa kêu gọi sự chia sẻ của đại biểu Quốc hội và cử chi cả nước: “Đúng là nợ công vẫn trong giới hạn cho phép nhưng chúng ta đang gặp khó khăn. Việc thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế xã hội, gắn với quản lý sử dụng vốn có hiệu quả sẽ góp phần giảm nợ công, nợ xấu”, Bộ trưởng nhận định.
Nhật Minh

Thứ Bảy, ngày 18 tháng 10 năm 2014

Càng nhiều dự án càng nghèo

Ở VN ngày nay bất cứ một dự án nào cũng  là "chùm khế ngọt" và căn bệnh "thích dự án" đã trở thành kinh niên gắn liền với tệ nạn tham nhũng ở mọi cấp độ trên quy mô cả nước. Có lẽ đó là nguyên nhân tại sao mức chi phí của các dự án VN bao giờ cũng cao gấp nhiều lần so với thế giới. Đó là chưa kể các khoản chi "phát sinh" vì những lý do không rõ ràng. Các khoản chi để "sửa chữa khắc phục" trong thời kỳ hậu dự án cũng rất lớn. Với tất cả các loại chi phí chồng lấn lên nhau như vậy thường rất khó xác định tổng chi phí thực sự của một dự án. 


Tuy nhiên ta có thể làm một vài so sánh với những thông tin và số liệu sẵn có trên mạng internet để thấy sự thất thoát ngân sách  ở VN kinh khủng đến mức nào. Vẫn biết mọi so sánh đều có sự khập khiễng nhất định, nhưng không so sánh thì không thấy sự chênh nhau rất vô lý giữa VN và thế giới. Dưới đây là một vài ví dụ.



Đường Ô Chợ đừa (Hà Nội) dài 547m với tổng mức đầu tư hơn 642 tỉ đồng (trung bình hơn 1,1 tỉ đồng mỗi mét, tức là hơn 50 triệu đô/km, và được mệnh danh là "đường đắt nhất hành tinh".

Đường Láng-Hoà Lạc dài 30 km, 6 làn xe chi phí tương đương 410 triệu đô la, tính ra chi phí 13,7 triệu đô la cho 1km. 

Đường cao tốc Hà Nội-Lào Cai dài 245, 4 làn xe, có nơi chỉ có 2 làn xe, chi phí hết 1,47 tỷ đô la, vị chi 6 triệu đô la cho 1km.

Một đoạn mặt đường rạn nứt của Cao Tốc Hà Nội-Lào Cai sau 2 tháng khánh thành

Trong khi đó, theo Cục giao thông và đường bộ Road& Transport Authority of Dubai RTA, con đường tránh đi vào thành phố Dubai (bypass) dài 70 km khánh thành năm 2012 với 12 làn xe tổng chi phí xây dựng hết 1 tỷ dirham= 278 triệu đô la. Như vậy tính ra chi phí xây dựng 1km đường cao tốc 12 làn xe của họ chỉ hết 3,97 triệu đô la thôi (*) 



Dự án sân bay Long Thành  được khái toán 18 tỉ USD. Tuy mới chỉ là khái toán nhưng cho thấy đã quá cao so với quốc tế, cụ thể như: 

Sân bay Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ: 5,6 tỉ USD rộng 77 triệu mét vuông, tức gần 20.000 ha, lớn gấp 4 lần dự án sân bay Long Thành, có khả năng đón 150 triệu lượt hành khách mỗi năm được kỳ vọng sẽ là "sân bay lớn nhất thế giới". 

Sân bay Quốc tế Denver, bang Colorado, Hoa Kỳ: đã xây xong và đưa vào hoạt động từ năm 1995, tổng chi phí đầu tư là 4,8 tỉ USD (tương đương 7,45 tỉ USD ở thời điểm hiện nay). Sân bay này rộng 54 dặm vuông, tương đương 140 km vuông (gần 35.000 ha), lớn hơn 7 lần so với dự án sân bay Long Thành. Lượng khách đón hàng năm: 52,5 triệu.

Sân bay quốc tế Al Maktoum, Dubai, Các tiểu Vương quốc Ả rập:
 tổng chi phí 33 tỷ USD , diện tích 220 km vuông, tương đương 55.000 ha, lớn gấp 101 lần dự án sân bay Long Thành (5.000 ha) và lớn gấp 65 lần sân bay Tân Sơn Nhất (8.500 ha) có khả năng đón 160 triệu lượt hành khách và 12 triệu tấn hàng hóa hàng năm, nhưng tổng chi phí chỉ bằng 1,8 lần khái toán  của sân bay Long Thành.  bay Long Thành  (**)


Đó là chưa nói tình trạng chất lượng của hầu hết các công trình của VN bao giờ cũng xuống cấp nhanh, mới khánh thành đã phải xử lý "sự cố kỹ thuật". Dễ nhận thấy nhất là các dự án xây đường cao tốc, sân bay, bến cảng, đập thủy lợi, thủy điện và các công trình công cộng lớn nhỏ. Hầu hết các tuyến đường cao tốc ở VN đều bị tình trạng sụt lún ngay sau khi khánh thành; mặt đường thì mấp mô, hành lang an toàn sơ sài nên tốc độ chạy xe không thể đạt chuẩn cao tốc.


Vậy câu hỏi đặt ra là vì sao chi phí cho các dự án ở VN quá cao so với thế giới ? Câu trả lời chung nhất mà giới chức VN thường viện dẫn là "giá đền bù giải phóng mặt bằng", nhưng họ không nêu rõ lý do tại sao chi phí giải phóng mặt bằng cao như vậy. Thực ra sự "bí ẩn" này nằm ở khâu "cơ chế tham nhũng" thường rất tinh vi, có tổ chức hoặc được bảo kê của các cá nhân hoặc cơ quan nhà nước đầy quyền lực. Sự phản ứng của  người dân trong các vùng có dự án cho thấy điều này.


"Kết quả" của phong trào dự án nhìn thấy được qua sự biến dạng nhanh chóng trong bức tranh quang cảnh vùng ngoại vi Hà Nội, Sài Gòn và một vài tỉnh thành khiến nhiều người khen kẻ chê... Nhưng đi kèm với chúng là sự tàn phá khủng khiếp đối với đất trồng lúa  màu mỡ (điển hình là dự án Ecopark ngay cửa cửa ngõ của Thủ đô)và môi trường sinh thái nói chung đồng thời dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội không thể kể hết ra đây. Nếu xét về mục đích của đầu tư là để phát triển thì có thể nói VN đã và đang làm điều ngược lại, nguy hiểm nhất là biến đất nước thành một con nợ đầy rủi ro.

Vậy nên chăng đã đến lúc phải tạm ngừng các "dự án phát triển" để chờ cải cách hành chính và giải quyết vấn nạn tham nhũng, nếu không muốn vỡ nợ ?

Ghi chú:
(*) Thông tin do cựu đại sứ Nguyen Quan Khai cung cấp trên trang facebook cá nhân.
(**) Thông tin trên trang Anh basam tập họp từ các nguồn khác nhau.

Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này