Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguồn lực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguồn lực. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, ngày 05 tháng 3 năm 2015

Đầu năm nghĩ về sự "không giống ai" của Việt Nam


Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, cùng với những biến cố lịch sử chưa từng thấy trên đất nước ta cũng đã phát sinh những cách tư duy và hành động không bình thường được gọi là "không giống ai". Sự không giống ai này diễn ra trong mọi lĩnh vực và nó đã và đang kiềm hãm đà tiến hóa bình thường của đất nước. Dưới đây xin nêu vài điều như thế.

Đầy tớ giàu hơn ông chủ

Hồ Chủ Tịch lúc sinh thời đã nêu lên định đề bất hủ "Cán bộ là đầy tớ của nhân dân". Thực ra đó là một khẩu hiệu để phấn đấu, nhưng có thời đã làm nức lòng dân chúng vì nó phản ánh đúng nguyện vọng của họ sau khi thoát khỏi ách "một cổ hai tròng" (phong kiến và thực dân) đang rất háo hức muốn được làm chủ vận mệnh của mình.

Tuy nhiên, mọi việc hoàn toàn không đơn giản như vậy. Việc đầu tiên của chính quyền cách mạng là tiến hành là cuộc cải cách ruộng đất ở nông thôn, cụ thể là tịch thu đất đai và nông cụ của địa chủ giao cho bần cố nông; đồng thời tiến hành cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản thư doanh ở thành thị, qua đó tịch thu các cơ sở sản xuất, kinh doanh của giai cấp tư sản và tiểu chủ giao cho giai cấp công nhân và cán bộ điều hành quản lý. Đó là việc chưa từng xảy ra ở Việt Nam trước đó. Thực ra việc này trước tiên đã được tiến hành ở i miền Bắc và đã cho thấy những hậu quả không mấy tốt lành, nhưng vì những lý do khác nhau vẫn được áp dụng với miền Nam sau ngày giải phóng 30/4/1975 bất chấp hậu quả sai lầm nhãn tiền của nó. Bằng cách đó, trên cả nước đã diễn ra một quá trình hoán đổi ngoạn mục thay thế lớp người "biết làm biết ăn" bằng những người không biết làm ăn hoặc do lười biếng mà bị bần cùng hóa. Cùng với đó, toàn bộ hệ thống công quyền truyền thống cũng được thay bằng chính quyền cách mạng từ trung ương xuống địa phương với một đội ngũ công chức mới được gọi là cán bộ "đầy tớ trung thành của nhân dân".

Phòng khách của một nguyên Tổng Bí thư như cung điện vua chúa 
Vào thời đó, ít ai nghĩ rằng đó chính là sự bắt đầu của cái vòng luẩn quẩn sau này, kể cả hiện nay khi người ta dường như đã nhận ra sai lầm và đang ra sức làm mọi việc để được trở lại như ngày xưa bằng cách giải thể các HTX nông nghiệp, trả lại ruộng đất cho các hộ gia đình đồng thời thực hiện cổ phần hóa các công ty nhà nước và đề cao "mô hình doanh nghiệp nhỏ và vừa", v.v...Nhưng xem ra quá trình sửa sai này còn khó hơn nhiều lần so với quá trình làm sai trước đó. Hậu quả là đất nước đã phí hoài hơn 1/2 thế kỷ để đi một vòng tròn đầy máu, nước mắt và mồ hôi thật cay đắng! Có lẽ điều duy nhất đạt được là sự đổi ngôi giữa các "đầy tớ" và ông chủ, và theo đó nguồn của cải cũng được chuyển giao một cách chóng vánh. Và sự ra đời một tầng lớp (nếu không phải là giai cấp) cán bộ - những người đã không mất quá nhiều thời gian để nhận ra rằng đằng sau khẩu hiệu "đầy tớ trung thành của nhân dân" là sự lấp lánh của quyền uy và sự giàu sang phú quý đầy sức cám dỗ. Do đó, khi đã yên vị họ nhận thấy rằng chỉ những kẻ ngốc mới không chịu làm đầy tớ!; nhiều người trong số họ nhận thấy làm đầy tớ là một nghề dễ sinh lợi nhanh có lẽ chỉ sau nghề buôn lậu. Và bằng mọi cách họ phải làm sao duy trì được càng lâu càng tốt địa vị của mình không chỉ để làm giàu mà còn để tiếp tục bảo vệ được thành quả một cách lâu dài. Vậy nên mới có hiện tượng những ông đầy tớ bám ghế dai như đỉa, và trước khi về hưu thì tranh thủ bổ nhiệm càng nhiều con cháu và những người thân cận vào các cương vị quan trọng để tiếp tục bảo vệ lẫn nhau.  Về điểm này không nên nhầm lẫn giữa các thế hệ cán bộ cách mạng tiền bối đã phụng sự cho sự nghiệp cách mạng mà không hề vụ lợi so với một bộ phận không nhỏ quan chức thoái hóa biến chất hiện nay.

Tệ nạn dối trá không phương cứu chữa

Vẫn biết tính dối trá luôn đồng hành trong mỗi con người và đối với mọi dân tộc trên thế giới này. Tuy nhiên, có thể nói ở Việt Nam lâu nay dối trả đã trở  thành một căn bệnh trầm kha không phương cứu chữa thì phải (?). Trong các cơ quan nhà nước, cấp dưới nói dối cấp trên là hiện tượng phổ biến đến mức được đúc kết là "làm thì láo báo cáo thì hay". Và có một nhận xét chí lý rằng nếu  ai không biết nói dối, không biết làm ẩu, không biết ‘ăn theo nói leo’ thì không thể tồn tại trong hệ thống công quyền. Tt nhiên ngoài xã hội tình hình không thể khá hơn. Hiện tượng  con cái nói dối bố mẹ, học trò nói dối thầy cô, và  người ta lừa dối nhau mọi lúc mọi nơi mà không thấy cắn rứt lương tâm.

Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính có lẽ do quá trình kéo dài nhiều thập kỷ mà trong đó mọi công dân phải sống và làm việc trong những điều kiện khó khăn thiếu thốn vật chất kéo dài; các phong trào thi đua khiến người ta sinh ra thói chạy theo thành tích bằng mọi thủ đoạn dối trá. Trong sự thiếu vắng của một nền pháp chế đúng nghĩa của nó, thì những quy định hành chính tạm thời thường cứng nhắc và vô lý được áp dụng trong thời gian dài gây tâm lý bất bình, bất an, bất phục trong dân chúng, rốt cuộc khiến  người dân phải đối phó bằng thái độ dối trá. Sự hụt hẫng lòng tin không chỉ về tôn giáo mà cả chủ thuyết chính trị cũng khiến con người ta dễ thỏa hiệp với thói dối trá hơn mỗi khi phải đứng trước lựa chọn lợi ích nào đó.

Ngành điện kêu lỗ, dân kêu khổ..., không ai biết chính xác vì đâu 
Thật ra tình trạng dối trá kéo dài là một trong những nguyên nhân chính kìm hãm sự phát triển của đất nước khi hầu hết những công trình nghiên cứu khoa học cũng như các dự án phát triển đều nhằm mục tiêu thành tích đồng thời bị lạm dụng và tham nhũng. Rốt cuộc lòng tin của dân chúng vào chế độ bị xói mòn nghiêm trọng.
     
Tình trạng nhầm lẫn khái niệm đáng báo động

Trong quá trình vận hành chế độ mới XHCN đã phát sinh nhiều khái niệm mới như "Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ", "quyền làm chủ tập thể", "lấy dân làm gốc" v.v...thường là mơ hồ ngoài sức hiểu biết của người đương thời. Chúng khiến người dân trở nên thụ động trông chờ "tất cả đã có Đảng và Nhà nước lo!"... Hậu quả là cả xã hội không còn tính năng động cần thiết để phát triển một cách lành mạnh.

Tình trạng nhầm lẫn cũng diễn ra trong nếp nghĩ và lối sống của nhiều người, đặc biệt trong giới quan chức (hay quan lại mới"). Tình trạng nhầm lẫn này đã đến mức báo động. Nếu trước đây những lời giáo huấn của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước dù sao cũng còn được lắng nghe, thì  giờ đây có thể trở thành trò cười cho thiên hạ khi hàng loạt những vụ tai tiếng do họ gây ra lần lượt bộc lộ với những tin tức dồn dập về các vụ lợi dụng chức quyền để tham nhũng làm giàu của giới quan chức từ thấp đến cao khiến công luận rất bất bình. Mới đây nhất có hai vụ mang tính điển hình thuộc về Nguyên  Tổng Thanh tra Nhà nước Trần Văn Tuyền và Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh. Việc tờ Thanh Niên-cơ quan ngôn luận của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (dù là cố tình hay vô ý) phát tán những hình ảnh nội thất xa hoa như vua chúa trong một ngôi biệt thự của Nguyên TBT Nông Đức Mạnh  cho thấy mức độ xuống cấp nghiêm trọng trong quan niệm đạo lý và hoàn toàn trái ngược với những gì mà giới lãnh đạo từng kêu gọi dân chúng "học tập tấm gương Bác Hồ", qua đó cũng góp phần cắt nghĩa tại sao tệ nạn tham nhũng ngày càng trở nên công khai ngang nhiên thách thức công luận đến thế.
Thế lực "phản động thù địch" đông đảo thế này thì nguy quá!
Sự nhầm lẫn khái niệm cũng đã lây lan sang khái niệm bạn-thù và cách mạng-phản cách mạng vốn là những khái niệm khá rành rọt trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây. Ngày nay thuật ngữ  "thế lực thù địch" được nhắc đến với một nội hàm mơ hồ, khó xác định, do đó cũng dễ bị lợi dụng bởi các nhóm lợi ích bất chấp lợi ích chung của dân tộc. Thật nguy hiểm khi mà cùng một sự việc, một con người nhưng bị hiểu khác nhau tùy theo lợi ích và quan điểm của các thế lực đang nắm quyền và đại số nhân dân. Xin đơn cử một ví dụ gần đây, đó là khi Trung Quốc đưa giàn khoan Haiyang 981 vào vùng biển của Việt Nam hồi giữa  năm 2014 làm dấy lên phong trào phản đối của quần chúng trong cả nước. Trong bối cảnh đó đương nhiên không thể tránh khỏi những cuộc tụ tập đông người và một nếu xảy ra một vài vụ bạo động cũng là dễ hiểu. Khách quan mà nói, đó là dấu hiệu lành mạnh của lòng yêu nước và là cơ hội tốt để vực dậy tinh thần đoàn kết toàn dân vốn đã suy yếu bấy lâu nay. Tuy nhiên, điều không bình thường là, khi một vài vụ bạo động xảy ra tại khu công nghiệp Bình Dương và Vũng Áng lại bị quy kết là "các thế lực phản động thù địch". Đó là gì nếu không phải là sự quy kết tùy tiện theo cảm tính, và để làm gì? Không loại trừ khả năng có những thế lực muốn tạo cớ để dập tắt phong trào quần chúng phản đối Trung Quốc đang dâng cao không có lợi cho lợi ích của phe nhóm họ. Và sự quy kết đó đã lập tức bị phía Trung Quốc lợi dụng để lớn tiếng "tố ngược" đối với Việt Nam. Thật nực cười khi kẻ cướp lại đòi nạn nhân phải xin lỗi và bồi thường!

Thay cho lời kết 
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, mọi sai lầm đều có thể xảy ra, nhưng chúng là bình thường nếu được nhận biết và khắc phục kịp thời. Kinh nghiệm lịch sử cũng cho thấy, trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tai họa đối với một dân tộc, thì thái độ kiêu ngạo tự mãn, độc đoán, chuyên quyền của vua chúa là khôn lường. Phải chăng kinh nghiệm này đang ứng nghiệm với trường hợp của Việt Nam khi mà chính quyền luôn xếp tất cả mọi công dân có ý kiến trái chiều vào cùng một rọ: "phản động thù địch"? Thử hỏi có đúng quy luật biện chứng không khi cho rằng tất cả những ai , kể cả vốn thuộc thành phần cách mạng, trí thức, cán bộ, đảng viên và mọi người Việt Nam yêu nước, có thể bỗng chốc "diễn biến" một cách đơn giản và dễ dàng thành kẻ phản động thù địch như vậy?  Chắc là không, vì con người ta không thể thay đổi nhanh chóng và vô cớ như vậy.

Vẫn biết cuộc tranh luận ai đúng ai sai trong chuyện này khó mà đi đến hồi kết, nhưng có một điều có thể nhìn thấy trước, đó là với cái cách mà những người nhân danh công tác tư tưởng và bảo vệ chế độ đang tiến hành hiện nay, chính họ đã và đang  tự tạo ra sự đối đầu và chia rẽ nội bộ một cách không cần thiết. Thiết nghĩ điều đáng lo ngại nhất đối với đất nước này không phải là sự tụt hậu kinh tế, cũng không phải từ kẻ thù ngoại xâm mà chính là sự chia rẽ từ bên trong của nó. Và điều cần thiết đối với đất nước này là một chế độ pháp trị và một một xã hội dân sự đúng nghĩa của nó./. 





Thứ Tư, ngày 14 tháng 1 năm 2015

Thư mở kính gởi Hội Nghị BCHTW 10 (của cụ Nguyễn Khắc Mai)

Nguyên văn nội dung do người viết thư gửi đăng trên  BVN

Tôi gởi lời kính chúc các Đại biểu khỏe mạnh, minh mẫn để bàn những công việc trọng đại của Đất nước và của Đảng CSVN.

Tôi dùng chữ thư mở để chỉ sự công khai, minh bạch, trong sáng, không giấu giếm, che đậy.
Trước hết, tôi xin dẫn câu nói của A.Einstein: “Những khó khăn mà chúng ta đang gặp phải hôm nay, sẽ không thể nào giải quyết được ở trình độ tư duy mà trước đây chúng ta tạo ra chúng”. Tôi nghĩ rằng đây là phương pháp luận làm tiền đề cho việc suy nghĩ, trước hết là tìm cho ra những tư duy mới. Ai cũng biết đổi mới phải bắt đầu bằng tư duy mới.

Thứ Bảy, ngày 03 tháng 1 năm 2015

Tư liệu: 10 phát biểu đáng chú ý trong năm 2014(*)

(*) Dưới đây là 10 câu phát biểu của các vị lãnh đạo cao cấp của VN trong trong năm 2014 (có kèm theo nguồn trích dẫn). Những phát biểu này được đưa ra trong những dịp khác nhau từ cấp cao nhất đến các cấp thấp hơn, về các chủ đề khác nhau qua đó phản ánh đúng thực chất tình hình kinh tế-chính trị-xã hội của đất nước mà có lẽ không được đề cập trong mọi văn kiện chính thức của Đảng và  Nhà nước. Và do đó thiện nghĩ, những phát biểu này có giá trị đặc biệt miễn là chúng được hiểu với tinh thần nghiêm túc tôn trọng sự thật khách quan không định kiến, không ngụy biện cũng bóp méo xuyên tạc.

Thứ Tư, ngày 31 tháng 12 năm 2014

Nguyên PTT Vũ Khoan: Việt Nam không phải là nước nhược tiểu

- “Chúng ta phải tự tin rằng chúng ta có sức mạnh, cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Việt Nam không phải là một nước nhược tiểu” – nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan nhấn mạnh.
VietNamNet giới thiệu kỳ 1 cuộc đối thoại trực tuyến: Dấu ấn đối ngoại Việt Nam 2014 và kỳ vọng 2015 với nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan do VietNamNet và báo Thế giới và Việt Nam phối hợp tổ chức. Dẫn chương trình là nhà báo Việt Lâm (báo VietNamNet) và nhà báo Minh Nguyệt (Phó Tổng biên tập báo Thế giới & Việt Nam).

Thứ Bảy, ngày 27 tháng 12 năm 2014

Hầu chuyện với anh Nguyễn Tấn Sang

(Bài viết của Nguyễn Khắc Mai gửi đăng trên Viet Studies ngày 15/12/2014)

Tôi hân hạnh được hầu chuyện với Anh, chung quanh đề tài “Niềm Cay Đắng”. Khi tiếp xúc cử tri tại TP HCM, Anh nói ”Chúng tôi sẵn sàng nghe những ý kiến cay đắng”. Anh có nhớ chính Hồ Chí Minh đã nói rất sâu sắc vấn đề này trong Nhật ký trong tù: Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do. Hồ Chí Minh còn có một câu khác cũng rất hay, nếu độc lập, thông nhất rồi mà dân không 
hưởng được hạnh phúc tự do, thì cũng chẳng nghĩa lý gì. Câu này chính là học được từ ý của hai cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, khi hai cụ bàn với nhau, tranh được độc lập rồi mà không có dân quyền thì cũng vô nghĩa.

Thứ Năm, ngày 18 tháng 12 năm 2014

Tôi đi tập kết

Nhân dịp "Kỷ niệm 60 năm ngày Học Sinh miền Nam trên đất Bắc" vừa được tổ chức tại Hà Nội, chủ blog tôi mạn phép đăng lại một ký ức của bản thân trong thời kỳ đáng ghi nhớ đó (trích từ "Tản mạn cuộc đời tôi")   

Vào một ngày se lạnh cuối năm 1954 cha tôi đi họp về thông báo vắn tắt với cả nhà rằng ông sẽ phải "đi tập kết" ra miền Bắc ngay trong vài ngày tới. Ông cũng bảo chị Hai hoặc tôi cũng có thể đi sau nếu muốn. Riêng ông cần phải đi trước khi  "đối phương” tiếp quản chính quyền ở địa phương. 

Thứ Tư, ngày 17 tháng 12 năm 2014

Cuộc dịch chuyển lịch sử của hơn 32.000 học sinh miền nam


VN net, 14/12/2014: Năm 1954, hiệp định Giơnevơ được ký kết. Cùng với việc tập kết bộ đội và cán bộ miền Nam ra Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ chủ trương đưa học sinh từ 6 -7 tuổi cho đến 19-20 tuổi là con em cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền Nam từ các địa phương ra miền Bắc học tập. Nhiệm vụ là đào tạo thành đội ngũ kế cận cho cách mạng miền Nam cũng như cách mạng cả nước sau này.Từ năm 1954 đến 1975, hơn 32.000 học sinh miền Nam lần lượt theo xe bộ đội, đi tàu thủy, đi bộ vượt dãy Trường Sơn… ra miền Bắc học tập. Hàng chục nghìn người trưởng thành lại trở về xây dựng miền Nam.

Chủ Nhật, ngày 07 tháng 12 năm 2014

THẤY GÌ TỪ NHỮNG CON SỐ?

THEO CÁC NGUỒN THÔNG KÊ TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ VIỆT NAM CÓ NHỮNG TIỀM NĂNG RẤT CƠ BẢN, ĐÓ LÀ

Dân số
image
Việt Nam hiện nay có dân số ước tính khoảng hơn 93 triệu người, đứng hàng thứ 13/243 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Dân số là một trong những chỉ số chủ yếu được dùng để đánh giá độ lớn và nhỏ của một quốc gia, vậy xếp thứ 13 có nghĩa là VN thuộc loại "nước lớn" của thế giới.

Diện tích
image
Việt Nam có tổng diện tích đất liền khoảng 331,210 km2, đứng hàng thứ 61/189 quốc gia trên thế giới. Diện tích quốc gia cũng là một trong những chỉ số chính dùng để đánh giá độ lớn của quốc gia, do đó vị trí thứ 61, cho thấy Việt Nam thuộc nhóm 1/3 quốc gia lớn của thế giới. 

Thứ Ba, ngày 25 tháng 11 năm 2014

Có một giới siêu giàu khác

Wealth - X và Ngân hàng Thụy Sĩ (UBS) vừa công bố báo cáo những người siêu giàu trên thế giới năm 2014. Trong đó Việt Nam có 210 đại diện với tổng tài sản trị giá 20 tỉ USD. Theo tiêu chí của Wealth - X và UBS, người siêu giàu là người có tài sản trên 30 triệu USD.

Thứ Sáu, ngày 21 tháng 11 năm 2014

Sự cố mất quyền điều hành bay là 'chưa từng có trên thế giới'


VN-Express 21/11/11/2014: Các chuyên gia trong ngành hàng không cho rằng sự cố mất điện tại Đài kiểm soát không lưu Tân Sơn Nhất là "quá sức nguy hiểm" và "thế giới không bao giờ có chuyện sân bay mất điện lâu thế".


Thứ Năm, ngày 20 tháng 11 năm 2014

Những vị "khách không mời" đến thăm nhà Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh

Ghi nhanh của Cựu Đại tá Nguyễn Đăng Quang người có mặt trong cuộc thăm
Chiều 19/11/2014 Hà Nội đã vào cuối thu, lạnh. Tôi tranh thủ đến thăm sức khỏe lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh. Tôi quen biết cụ đã gần 40 năm nay và rất kính trọng và khâm phục cụ về nhân cách, đạo đức cũng như tấm lòng của cụ đối với dân và đất nước. Dù năm nay đã 99 tuổi song cụ vẫn nhanh nhẹn, khỏe mạnh và minh mẫn! Mặc dù hơn tôi 26 tuổi song cụ vẫn coi tôi là một người bạn vong niên thân thiết. Tiếp tôi, ngoài cụ còn có con gái cụ là nhà văn Nguyên Bình và chồng chị là anh Trịnh Văn Trà, một đại tá quân đội đã nghỉ hưu.
Tôi đứng lên chào và xin phép cụ ra về vì đã tâm tình và trò chuyện với cụ hơn một tiếng đồng hồ thì cụ bảo tôi cố nán lại ít phút để dự buổi cụ tiếp đoàn khách của Thành ủy Hà Nội đến thăm cụ.

Thứ Tư, ngày 19 tháng 11 năm 2014

Báo SGGP thiếu khách quan

Ngày 4/11/2014 Báo SGGP đăng bài: Sự thật về lòng "trung thành" của của nhóm thư ngỏ 61. Xem tại đây: 
http://www.sggp.org.vn/xaydungdang/2014/11/366020/

Bài báo đã đưa ra những đánh giá chủ quan, phiến diện và áp đặt những "tội danh" không có thực đối với các đảng viên có tên trong "bức thư ngỏ 61" như "mượn danh đảng viên và yêu nước"..."tiếp tay cho Việt Tân và các tổ chức phản động", v.v... 

Thứ Bảy, ngày 15 tháng 11 năm 2014

Nghi án “hoa hồng” và Đại tướng quân xứ người

- 15/11/2014Cả hai vụ có “yếu tố nước ngoài”, dù xấu tốt, hay dở khác hẳn nhau, nhưng đều cho thấy tư duy quản lý, nền quản trị quốc gia từ vĩ mô tới vi mô của nước Việt đang phải “Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước/ Chọn một dòng hay để nước trôi?”

Chọn dòng tư duy văn minh, văn hóa mềm dẻo, thực tiễn của nhân loại hay… ngược lại.
I-Nổi bật trong tuần có hai vụ việc, một dở, một hay, đều liên quan đến “yếu tố nước ngoài”, đều gây sốc, nhưng dư âm của nó, như tên gọi một ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý xa xưa thuở nào, thì đều rất… đáng buồn
Xin nói về chuyện dở trước.

Thứ Tư, ngày 12 tháng 11 năm 2014

VN "lạm phát tướng"?

Gs Nguyễn văn TuấnTheo FB Nguyen Tuan
Nhiều năm trước, một anh bạn làm nghề báo chí nhưng không hẳn là kí giả, đưa ra một nhận xét làm tôi giật mình. Anh nói với tôi: "Ông nói nhiều về lạm phát con số giáo sư và tiến sĩ, nhưng ông không chú ý là VN còn lạm phát về tướng tá." 

Thứ Hai, ngày 03 tháng 11 năm 2014

Mô hình phát triển nào cho Việt Nam

Tư Giang(TBKTSG) -1/11/2014


 Câu chuyện về cái đuôi định hướng

Một ngày cuối năm 2013, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên nhận được một câu hỏi của nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển: “Quy luật chính của kinh tế thị trường là gì?”. Ông Thiên, sau một hồi suy nghĩ, đáp ngắn gọn “cạnh tranh”.

Chủ Nhật, ngày 02 tháng 11 năm 2014

Tiền nhân đã dạy: "Khôn thì sống, mống thì chết"



Tác giả: Ngọc Quang Báo GDVN ngày 31/10/2014 - 

Nếu chúng ta giao quyền, giao tài sản cho những người kém cỏi về năng lực và đạo đức, lại tham lam... thì làm sao tránh khỏi lệ thuộc, thậm chí là mất nước

Sáng nay, Luật sư Trương Trọng Nghĩa - Đại biểu đoàn TP.HCM đã có một phát biểu làm nóng nghị trường khi đề cập thẳng tới quan hệ kinh tế với Trung Quốc và chuyện hàng nghìn lao động phổ thông Trung Quốc tràn vào Việt Nam.

Thứ Sáu, ngày 31 tháng 10 năm 2014

Tư liệu: Tình trạng nợ nần của VN


Theo VN-Express 30/10/2014,   Lần đầu tiên nhiều số liệu chi tiết về nợ công được người đứng đầu ngành tài chính công bố tại diễn đàn Quốc hội.
Bo-truong-tai-chinh-1622-1414662954.jpg
Bộ trưởng Tài chính cho biết tỷ lệ nợ công sẽ bắt đầu giảm từ năm 2017.
Câu chuyện nợ công vốn đã được Quốc hội thảo luận suốt nhiều kỳ họp, một lần nữa khiến dư luận quan tâm khi báo cáo tình hình 2014 của Chính phủ đưa ra nhận định nợ công đang tăng nhanh. Liên tiếp tại các phiên họp tổ, các buổi góp ý chuyên đề cũng như trong suốt phần thảo luận kinh tế - xã hội ngày 30/10, hàng loạt câu hỏi, ý kiến xung quanh vấn đề quản lý nợ được các đại biểu đặt ra.
Đáp ứng yêu cầu này, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng được đề xuất là thành viên Chính phủ đầu tiên tham gia ý kiến về vấn đề này. Báo cáo của ông trước Quốc hội, đúng như kỳ vọng, đã lần đầu tiên cho thấy một bức tranh khá toàn diện về tình hình tài chính quốc gia.
Lần dở lại lịch sử, vị trưởng ngành cho biết khái niệm nợ công chỉ thực sự có ý nghĩa đối với hệ thống quản lý tài chính Việt Nam từ năm 2010, khi Luật Quản lý nợ công chính thức có hiệu lực. Trước đó, các chỉ tiêu quản lý khác là nợ Chính phủ hay nợ quốc gia đều ở mức khá thấp (31-38% GDP) và chỉ thực sự tăng mạnh từ năm 2009, khi Việt Nam tích cực đi vay để kích cầu.
Những năm sau đó, kinh tế khó khăn, nguồn thu bị cắt giảm để hỗ trợ doanh nghiệp trong khi các khoản chi cho an sinh, các chương trình mục tiêu quốc gia… không thể cắt giảm khiến cho cơ quan quản lý phải thắt chặt túi tiền dành cho đầu tư. Tỷ trọng chi cho lĩnh vực này giảm từ 21,6% năm 2010 xuống mức 16-17% tổng chi hiện nay. Để bù đắp, Chính phủ phải phát hành 170.000 tỷ đồng trái phiếu trong 3 năm 2014-2016, bên cạnh con số 225.000 tỷ đã được Quốc hội phê duyệt trước đó cho giai đoạn 2011-2015.
Chính điều này đã đẩy nợ công tăng cả về tỷ lệ lẫn số tuyệt đối, từ mức 50% năm 2011 lên 64% GDP năm 2015 (tốc độ tăng nợ khoảng 18-25% một năm).
Điểm tích cực của việc vay nợ những năm qua được Bộ trưởng thông báo là tăng tỷ lệ vay trong nước, giảm phụ thuộc vào nước ngoài, lãi suất trái phiếu Chính phủ cũng có xu hướng đi xuống. Tuy nhiên, ông Đinh Tiến Dũng cũng cảnh báo về các khoản vay trong nước đều có kỳ hạn ngắn. Điều này đồng nghĩa với áp lực trả nợ giai đoạn 2015-2016 là rất cao.
 Infographic: Việt Nam đang vay nợ như thế nào ?
VietnamVayNoNhuTheNao-500x300-7416-14146
Dù cho biết đến nay, Việt Nam luôn đảm bảo trả đầy đủ, kịp thời các khoản đến hạn, không phát sinh nợ xấu, song Bộ trưởng Tài chính cũng thừa nhận cơ cấu nợ hiện không bền vững. Cơ quan điều hành phải phát hành trái phiếu đảo nợ với tổng số tiền dự toán trong vòng 3 năm qua khoảng 137.000 tỷ đồng.
Cụ thể, số phát hành năm 2012 là 20.000 tỷ, 2013 là 40.000 tỷ và theo dự toán năm 2014 là 77.000 tỷ. "Nếu thu ngân sách vượt lên theo báo cáo Quốc hội, có thể bố trí vào thì con số của năm 2014 có thể giảm đi. Còn dự toán năm 2015 là 130.000 tỷ", Bộ trưởng cho biết.
Từ thực tế này, đại diện ngành tài chính cũng đưa ra kế hoạch khá chi tiết cho chiến lược vay nợ của Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2020. Cụ thể, với mức bội chi dự kiến 4-5% một năm, kế hoạch phát hành 145.000 tỷ đồng trái phiếu trong vòng 2 năm tới, Chính phủ dự kiến sẽ phải bán thêm khoảng 50.000 tỷ đồng trái phiếu mỗi năm cho giai đoạn 2017-2020.
Cùng với đó, Chính phủ sẽ tiếp tục phải vay nước ngoài (chủ yếu là ODA, vay ưu đãi…) 5-6 tỷ USD một năm, trong đó số đi vay để cho doanh nghiệp vay lại 1,5-2 tỷ USD. Các khoản bảo lãnh cho doanh nghiệp đặc thù (dầu khí, điện, hàng không…) vay để làm các dự án trọng điểm cũng khoảng 3-4 tỷ USD mỗi năm, bảo lãnh cho các định chế tài chính đặc thù phát hành trái phiếu 60.000-70.000 tỷ một năm… sẽ cùng với khoản nợ của chính quyền địa phương (cao thêm 30.000-45.000 tỷ mỗi năm) tác động tới nợ công.
Tuy vậy, với giả định GDP tăng trưởng 6,2-6,8% mỗi năm trong giai đoạn 2015-2020, lạm phát khoảng 5-6%, bội chi giữ ở mức 4-5%, Chính phủ dự kiến nợ công sẽ tiếp tục tăng và đạt đỉnh vào năm 2017 (64,9% GDP) và giảm dần sau đó. Đến 2020, cơ quan điều hành kỳ vọng nợ công sẽ về mức 60,2% GDP.
Với những tính toán nêu trên, kết thúc phần phát biểu tại nghị trường, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng một lần nữa kêu gọi sự chia sẻ của đại biểu Quốc hội và cử chi cả nước: “Đúng là nợ công vẫn trong giới hạn cho phép nhưng chúng ta đang gặp khó khăn. Việc thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế xã hội, gắn với quản lý sử dụng vốn có hiệu quả sẽ góp phần giảm nợ công, nợ xấu”, Bộ trưởng nhận định.
Nhật Minh

Thứ Bảy, ngày 18 tháng 10 năm 2014

Càng nhiều dự án càng nghèo

Ở VN ngày nay bất cứ một dự án nào cũng  là "chùm khế ngọt" và căn bệnh "thích dự án" đã trở thành kinh niên gắn liền với tệ nạn tham nhũng ở mọi cấp độ trên quy mô cả nước. Có lẽ đó là nguyên nhân tại sao mức chi phí của các dự án VN bao giờ cũng cao gấp nhiều lần so với thế giới. Đó là chưa kể các khoản chi "phát sinh" vì những lý do không rõ ràng. Các khoản chi để "sửa chữa khắc phục" trong thời kỳ hậu dự án cũng rất lớn. Với tất cả các loại chi phí chồng lấn lên nhau như vậy thường rất khó xác định tổng chi phí thực sự của một dự án. 


Tuy nhiên ta có thể làm một vài so sánh với những thông tin và số liệu sẵn có trên mạng internet để thấy sự thất thoát ngân sách  ở VN kinh khủng đến mức nào. Vẫn biết mọi so sánh đều có sự khập khiễng nhất định, nhưng không so sánh thì không thấy sự chênh nhau rất vô lý giữa VN và thế giới. Dưới đây là một vài ví dụ.



Đường Ô Chợ đừa (Hà Nội) dài 547m với tổng mức đầu tư hơn 642 tỉ đồng (trung bình hơn 1,1 tỉ đồng mỗi mét, tức là hơn 50 triệu đô/km, và được mệnh danh là "đường đắt nhất hành tinh".

Đường Láng-Hoà Lạc dài 30 km, 6 làn xe chi phí tương đương 410 triệu đô la, tính ra chi phí 13,7 triệu đô la cho 1km. 

Đường cao tốc Hà Nội-Lào Cai dài 245, 4 làn xe, có nơi chỉ có 2 làn xe, chi phí hết 1,47 tỷ đô la, vị chi 6 triệu đô la cho 1km.

Một đoạn mặt đường rạn nứt của Cao Tốc Hà Nội-Lào Cai sau 2 tháng khánh thành

Trong khi đó, theo Cục giao thông và đường bộ Road& Transport Authority of Dubai RTA, con đường tránh đi vào thành phố Dubai (bypass) dài 70 km khánh thành năm 2012 với 12 làn xe tổng chi phí xây dựng hết 1 tỷ dirham= 278 triệu đô la. Như vậy tính ra chi phí xây dựng 1km đường cao tốc 12 làn xe của họ chỉ hết 3,97 triệu đô la thôi (*) 



Dự án sân bay Long Thành  được khái toán 18 tỉ USD. Tuy mới chỉ là khái toán nhưng cho thấy đã quá cao so với quốc tế, cụ thể như: 

Sân bay Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ: 5,6 tỉ USD rộng 77 triệu mét vuông, tức gần 20.000 ha, lớn gấp 4 lần dự án sân bay Long Thành, có khả năng đón 150 triệu lượt hành khách mỗi năm được kỳ vọng sẽ là "sân bay lớn nhất thế giới". 

Sân bay Quốc tế Denver, bang Colorado, Hoa Kỳ: đã xây xong và đưa vào hoạt động từ năm 1995, tổng chi phí đầu tư là 4,8 tỉ USD (tương đương 7,45 tỉ USD ở thời điểm hiện nay). Sân bay này rộng 54 dặm vuông, tương đương 140 km vuông (gần 35.000 ha), lớn hơn 7 lần so với dự án sân bay Long Thành. Lượng khách đón hàng năm: 52,5 triệu.

Sân bay quốc tế Al Maktoum, Dubai, Các tiểu Vương quốc Ả rập:
 tổng chi phí 33 tỷ USD , diện tích 220 km vuông, tương đương 55.000 ha, lớn gấp 101 lần dự án sân bay Long Thành (5.000 ha) và lớn gấp 65 lần sân bay Tân Sơn Nhất (8.500 ha) có khả năng đón 160 triệu lượt hành khách và 12 triệu tấn hàng hóa hàng năm, nhưng tổng chi phí chỉ bằng 1,8 lần khái toán  của sân bay Long Thành.  bay Long Thành  (**)


Đó là chưa nói tình trạng chất lượng của hầu hết các công trình của VN bao giờ cũng xuống cấp nhanh, mới khánh thành đã phải xử lý "sự cố kỹ thuật". Dễ nhận thấy nhất là các dự án xây đường cao tốc, sân bay, bến cảng, đập thủy lợi, thủy điện và các công trình công cộng lớn nhỏ. Hầu hết các tuyến đường cao tốc ở VN đều bị tình trạng sụt lún ngay sau khi khánh thành; mặt đường thì mấp mô, hành lang an toàn sơ sài nên tốc độ chạy xe không thể đạt chuẩn cao tốc.


Vậy câu hỏi đặt ra là vì sao chi phí cho các dự án ở VN quá cao so với thế giới ? Câu trả lời chung nhất mà giới chức VN thường viện dẫn là "giá đền bù giải phóng mặt bằng", nhưng họ không nêu rõ lý do tại sao chi phí giải phóng mặt bằng cao như vậy. Thực ra sự "bí ẩn" này nằm ở khâu "cơ chế tham nhũng" thường rất tinh vi, có tổ chức hoặc được bảo kê của các cá nhân hoặc cơ quan nhà nước đầy quyền lực. Sự phản ứng của  người dân trong các vùng có dự án cho thấy điều này.


"Kết quả" của phong trào dự án nhìn thấy được qua sự biến dạng nhanh chóng trong bức tranh quang cảnh vùng ngoại vi Hà Nội, Sài Gòn và một vài tỉnh thành khiến nhiều người khen kẻ chê... Nhưng đi kèm với chúng là sự tàn phá khủng khiếp đối với đất trồng lúa  màu mỡ (điển hình là dự án Ecopark ngay cửa cửa ngõ của Thủ đô)và môi trường sinh thái nói chung đồng thời dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội không thể kể hết ra đây. Nếu xét về mục đích của đầu tư là để phát triển thì có thể nói VN đã và đang làm điều ngược lại, nguy hiểm nhất là biến đất nước thành một con nợ đầy rủi ro.

Vậy nên chăng đã đến lúc phải tạm ngừng các "dự án phát triển" để chờ cải cách hành chính và giải quyết vấn nạn tham nhũng, nếu không muốn vỡ nợ ?

Ghi chú:
(*) Thông tin do cựu đại sứ Nguyen Quan Khai cung cấp trên trang facebook cá nhân.
(**) Thông tin trên trang Anh basam tập họp từ các nguồn khác nhau.

Thứ Hai, ngày 13 tháng 10 năm 2014

Vì sao "Sống cùng lịch sử"chết ỉu

Cuốn film nhựa "Sống cùng lịch sử" trị giá 21 tỷ đồng do Nhà nước đầu tư vừa ra lò nóng hổi đã bị ế đến mức phải rao chiếu miễn phí trên toàn quốc, nhưng số người đi xem vẫn thưa thớt. Dư luận công chúng, báo giới và cả giới bình luận chuyên nghiệp đều chê cuốn film cả về nghệ thuật lẫn nội dung. Một số ý kiến đổ lỗi cho cơ quan quản lý và cá nhân những người làm film. Có ý kiến cho rằng có nhiều điều không đúng sự thật lịch sử...trong khi ý kiến khác chê trình độ kỹ thuật, kỹ xảo v.v...Cũng cố ý kiến cho rằng có tiêu cực tham nhũng trong quá trình làm film. Hình như thói đời vẫn thế- hễ dậu đổ là bìm leo- đâu đó thấy khá nhiều ý kiến chê film dỡ quá, thậm chí nhiều người chưa xem phim cũng chê! Đã thế thì tẩy chay cho bỏ tức! 

Nhìn chung ý kiến khá phức tạp và trái ngược nhau mặc dù xem ra ý kiến nào cũng có lý cả. Có một điều đáng suy nghĩ là, bất chấp doanh thu thấp và sự phê phán của công luận, những người trong giới quản lý ngành điện ảnh (và cả bản thân đạo diễn cuốn film thì phải?) lại đánh giá "Đã hoàn thành nhiệm vụ...theo chỉ đao". Điều này có nghĩa họ coi trọng việc hoàn thành nhiệm vụ được giao phó hơn là doanh thu! Với tất cả những gì đã và đang diễn ra có thể thấy số phận cuốn film vốn đã hẫm hiêu chắc sẽ nhanh chóng đi vào lịch sử, chứ khó có thể sống cùng lịch sử!

Với tâm trạng băn khoăn, người viết bài này đã quyết định đến Trung tâm chiếu bóng quốc gia (Hà Nội) để mục sở thị xem thực hư thế nào. Và khi chưa xem thì không dám phát biểu, nhưng xem rồi thì thấy không thể không nói đôi điều.



Trước hết phải nói cuốn film không tồi, cả ở góc độ nghệ thuật lẫn nội dung. Kỹ thuật quay, hình ảnh, âm thanh, tốc độ, kỹ năng, kỹ xảo,v.v...  đều bắt kịp thời đại. Nội dung cũng khá ổn, không có gì đến mức phải nói là "không đúng sự thật" như một số người nhận xét. Dàn diễn viên có cả người ta và người tây đều trẻ đẹp. Có thể nói đạo diễn đã có sự sáng tạo và mạnh bạo trong việc thay đổi cách làm đối với loại film chính trị thường đòi hỏi sự nghiêm túc, cứng nhắc lâu nay. Ý tưởng lồng ghép một chủ đề lịch sử tưởng nhàm chán với một hoạt động "thời thượng" của giới trẻ VN hiện nay là đi phượt có lẽ nên được đánh giá cao, ít nhất là trong trường hợp cụ thể của film này. 

Một cảnh trong film Sống cùng lịch sử
Vậy tại sao không có người xem? Tất nhiên có một số nguyên nhân khác nhau, trong đó có sự yếu kém trong khâu hậu mãi, nhưng có nguyên nhân chính thuộc về phía khán giả, trước hết là tâm lý muốn "quên" quá khứ một thời CM? Nói vậy nghe có vẻ võ đoán, vơ đũa cả nắm..., nhưng đó là sự thật nếu chịu nhìn thẳng vào nguyên nhân sâu xa của nó là tình trạng mất lòng tin vào giới lãnh đạo đất nước hiện nay. Khi người dân đã nghe nói quá nhiều về cách mạng nhưng thấy nhiều đồng chí bây giờ toàn làm ngược lại...thành ra họ nghĩ các ổng (ông í) toàn tuyên truyền! Dần dà người ta trở nên dị ứng với những từ ngữ "cách mạng", "lịch sử"...là điều khó tránh khỏi. Thế hệ già còn bị tác động, huống chi thế hệ trẻ? Người Việt lại có thói xấu hay theo đuôi nhau!

Sẽ suy nghĩ thêm. Nhưng cảm nhận khá mạnh mẽ sau buổi xem film là như vậy.


Thứ Bảy, ngày 11 tháng 10 năm 2014

Bao giờ Rồng bay lên từ “ao làng” Thăng Long?

Hiệu Minh/ blog Hiệu Minh

Cầu Thê Húc. Ảnh: Internet
Cầu Thê Húc. Ảnh: Internet
Bài này tôi viết từ năm 2008, dù qua 6 năm, có lẽ thông điệp còn nguyên giá trị.
Người ta nói người ở làng chỉ biết ao làng, người ra biển sẽ biết biển lớn. Đáng tiếc chúng ta đang muốn Rồng Thăng Long bay ra đại dương nhưng hình như ta lại chưa thoát khỏi tư duy “ao làng”.
“Ao làng” Thăng Long
Như bao sinh viên ra trường, tôi chọn hồ Hoàn Kiếm làm tâm điểm để tìm việc trong bán kính ba ki-lô-mét. Vài người bạn còn chọn cả người yêu trong cái vòng tròn đó. Hồi mới ra Thủ đô, do chưa quen 36 phố phường, mỗi lần cần đi đâu, tôi đạp xe vòng lên bờ Hồ mới có thể định hướng đi tiếp. Với tôi, hồ Hoàn Kiếm như cái “ao làng xưa, một cõi đi về”.

Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này