Thứ Ba, ngày 03 tháng 3 năm 2015

Tư liệu: Liên Xô "chia lửa" với Việt Nam trong chiến tranh biên giới thế nào?

Ngày 16/2/1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố khả năng một cuộc chiến tranh tổng lực chống Liên Xô. Dọc tuyến biên giới Xô - Trung đã tập trung khoảng 1,5 triệu quân PLA, phía Liên Xô đã triển khai hơn 40 sư đoàn...

Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước năm 1975, do những vấn đề phức tạp trong quan hệ giữa các nước trong khối XHCN, Việt Nam khẳng định đường lối chính trị độc lập, tự chủ, không phụ thuộc đã duy trì mối quan hệ chính trị bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và không can thiệp vào nội bộ của nhau với các nước trong khối XHCN.
Liên Xô chia lửa với Việt Nam trong chiến tranh biên giới thế nào?
Tháng 12/1979. Đô đốc Hạm đội Liên bang Xô Viết S.G.Gorshkov, Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô đến Hà Nội để đặt quan hệ công tác với Bộ Quốc phòng CHXHCN Việt Nam. Trong ảnh là Tư lệnh Hải quân Việt Nam, Thiếu tướng Giáp Văn Cương đón đoàn.
 
Trong bầu không khí đối ngoại chính trị căng thẳng sau chiến tranh khốc liệt, Việt Nam nhanh chóng xác định được thực chất những vấn đề phức tạp đang nảy sinh trong quan hệ quốc tế và xác định rõ Liên bang Xô Viết là người bạn chung thủy và đáng tin cậy nhất trong giai đoạn này.
Nhưng Việt Nam vẫn duy trì mối quan hệ bình đẳng về ngoại giao với hai nước lớn trong khối XHCN đến trước năm 1979. Chiến lược chi phối toàn bộ khu vực châu Á - Thái Bình Dương và những âm mưu đầy tham vọng của nước láng giềng nhằm thực hiện sách lược đã nêu buộc nhà nước Việt Nam phải tiến hành những bước đi vững chắc nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, một trong những bước đi kiên quyết đó là gắn kết với Liên Xô trong một mối quan hệ đoàn kết hữu nghị trên tầm chiến lược.
Vào rạng sáng ngày 17.2.1979, quân đội nước láng giềng sau hàng loạt những hành động khiêu khích đã tiến hành cuộc chiến tranh trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam. Trước khi nổ ra cuộc chiến một thời gian, ngày 29.6.1978 Việt Nam đã gia nhập CMEA. Ngày 3.11.1978 tại Moscow, đại diện nhà nước Liên bang Xô Viết và Việt Nam đã ký kết Hiệp ước hữu nghị Xô-Việt. Ngoài các điều kiện tiêu chuẩn của hiệp ước về hợp tác thương mại và văn hóa, hiệp ước có được những vấn đề quan trọng về quốc phòng như một hiệp ước về "phòng thủ chung" có nghĩa là "tham khảo ý kiến ​​chung và hành động hiệu quả để đảm bảo an ninh quốc phòng của cả hai nước."
Liên Xô chia lửa với Việt Nam trong chiến tranh biên giới thế nào?
Cảng Cam Ranh tháng 3-1979, các thành viên tàu BPK "Vasily Chapaev" và sỹ quan chiến sỹ vùng 4 hải quân Việt Nam chụp ảnh lưu niệm.
 
Nhưng dấu hiệu của sự gia tăng của hợp tác Xô-Việt trở thành hiện thực vào mùa hè năm 1978, trong bối cảnh mâu thuẫn ngày càng tăng giữa Việt Nam với nước láng giềng. Theo các nguồn tin chính thức của Hoa Kỳ vào tháng 8.1978, Việt Nam có 4.000 cố vấn và chuyên gia Liên Xô và đến giữa năm 1979 con số đã tăng lên đến 5.000-8.000. Tháng 9.1978, Liên Xô bắt đầu thực hiện việc cung cấp vũ khí mới (máy bay, tên lửa phòng không, xe tăng và vũ khí, đạn dược, cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh) cho Việt Nam bằng đường hàng không và đường biển.
Cũng vào thời điểm đó, quan hệ Xô – Trung trở nên vô cùng căng thẳng và có rất nhiều trở ngại lớn. Ngày 1.11.1977, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Trung quốc, tờ Nhân dân nhật báo trong một bài xã luận đã gọi Liên Xô như một kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc, đồng thời coi Mỹ như là một đồng minh. Ngày 26.4.1978. Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu bổ sung thêm vào điều kiện công nhận sự tồn tại các vấn đề tranh chấp khu vực trên biên giới Trung-Xô. Trung Quốc đòi quân đội Liên Xô phải hoàn toàn triệt thoái khỏi Mông Cổ, đồng thời giảm số lượng các lực lượng vũ trang trên suốt tuyến biên giới Trung-Xô.
Đáp trả lại yêu cầu ngang ngược của Bắc Kinh, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev, vào đầu tháng 4.1978 khi đi thăm Siberia và Hạm đội Thái Bình Dương, đã tuyên bố rằng sẽ triển khai trên tuyến biên giới các hệ thống vũ khí mới, ngoài những hệ thống vũ khí trang bị hiện đại đã có sẵn trên biên giới Trung-Xô. Các loại vũ khí mới này, theo tuyên bố của Leonid Brezhnev có khả năng đảm bảo an ninh biên giới cho Liên bang Xô Viết và các nước đồng minh, chống lại mọi âm mưu xâm lược của thế lực nước ngoài.
Liên Xô chia lửa với Việt Nam trong chiến tranh biên giới thế nào?
Ngay trong tháng 5/1979, các tàu chiến Liên Xô bắt đầu đi vào hải phận Cam Ranh. Ít lâu sau, các máy bay của Hạm đội Thái Bình Dương bắt đầu hạ cánh xuống Cam Ranh. Trong ảnh là thủy thủ đoàn tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Victor III Rroject 671RTM biên chế trong Sư đoàn tàu ngầm số 38 (Liên đội tàu chiến số 17) tại Cam Ranh.
 
Thế lực nào thì Brezhnev không nêu rõ, nhưng tất cả đều đã rõ ràng. Bổ sung thêm vào lời tuyên bố của Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô, ngày 12.4.1978. Ulan Bator cũng công khai bác bỏ yêu cầu của Trung Quốc, tuyên bố rằng lực lượng quân đội Liên Xô được tăng cường và triển khai dọc biên giới Mông Cổ - Trung Quốc là theo yêu cầu của Mông Cổ nhằm đáp trả việc tăng cường lực lượng của PLA trên biên giới. Tình hình ngày càng trở lên phức tạp. Tháng 5.1979 trên biên giới Xô Trung đã xảy ra một vụ xung đột nghiêm trọng lớn tính từ năm 1969, xung đột đã lôi kéo sự tham gia của cả máy bay trực thăng chiến đấu. Ngược lại, Liên bang Xô Viết cũng tăng cường áp lực lên Trung Quốc với mục đích đạt được sự kéo dài Hiệp định Xô – Trung có giới hạn 30 năm về quan hệ Liên minh, Hợp tác hữu nghị và giúp đỡ lẫn nhau, được ký vào ngày 14.2.1950.
15.2.1979 là ngày đầu tiên sau 30 năm Hiệp ước Xô - Trung về Liên minh, hợp tác hữu nghị và giúp đỡ lẫn nhau hết hiệu lực. Trung Quốc chính thức bước ra khỏi sự ràng buộc của Hiệp định này. Ngày 16.2.1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố với Moscow về khả năng sẵn sàng tiến hành một cuộc chiến tranh tổng lực chống Liên bang Xô Viết. Dọc tuyến biên giới Xô - Trung đã tập trung khoảng 1,5 triệu quân PLA trên tổng số quân thường trực chiến đấu là 3,6 triệu người, trên tuyến biên giới quân đội Liên Xô đã triển khai hơn 40 sư đoàn.
Sáng sớm ngày 17.2.1979, các cuộc tấn công đã đồng loạt diễn ra tại 26 điểm trên toàn tuyến biên giới phía Bắc dài 1460 km của Việt Nam. Ngày 19.2 các phương tiện thông tin công bố bản "Tuyên bố của Chính phủ Liên Xô" thứ nhất. Trong có đoạn viết: “Nhân dân Việt Nam anh hùng lại một lần nữa trở thành nạn nhân của một cuộc chiến tranh xâm lược mới, nhưng quân và dân Việt Nam có đủ sức mạnh và ý chí để đánh bại kẻ thù xâm lược, hơn nữa, nhân dân Việt Nam có những người bạn thủy chung và là chỗ dựa vững chắc cho cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Liên bang Xô Viết sẽ thực hiện đầy đủ những điều khoản cam kết được ghi trong Hiệp ước hợp tác hữu nghị toàn diện và giúp đỡ lẫn nhau giữa Liên Xô và Việt Nam. Liên bang Xô Viết kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa chống nhân dân Việt Nam và lập tức rút quân khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam".
Trước thực trạng nhân dân Việt Nam một lần nữa phải chịu đựng những tổn thất, mất mát và sự tàn khốc của chiến tranh xâm lược, Liên Xô hoàn toàn không có ý định bỏ qua những trách nhiệm đã được cam kết. Tại Việt Nam, các chuyên gia và cố vấn lập tức tham gia vào những hoạt động quân sự cùng với những người đồng chí Việt Nam. Từ phía Liên Xô, các lực lượng cố vấn và chuyên gia quân sự được tăng cường. Một cầu hàng không được thiết lập từ Liên Xô đến Việt Nam. Ngày 19.2.1979, một đội chuyên gia kỹ chiến thuật binh chủng và cố vấn quân sự của tất cả các quân binh chủng đứng đầu là đại tướng G.Obaturovym.
Đội chuyên gia và cố vấn có nhiệm vụ hỗ trợ, giúp đỡ và cố vấn cho các cán bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam trong tình huống phức tạp của chiến trường. Nhóm chuyên gia của Trung tướng M.Vorobevy nhận nhiệm vụ cố vấn cho bộ tư lệnh lực lượng Phòng không – Không quân. Đại tướng G.Obaturovym làm cố vấn cho Tổng tham mưu trưởng lực lượng vũ trang Việt Nam Lê Trọng Tấn và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đại tướng Văn Tiến Dũng đã tiến hành đồng thời nghiên cứu chi tiết tình hình. Sau chuyến đi khẩn cấp thị sát chiến trường. Bộ tổng tham mưu đã đề xuất lãnh đạo cho phép điều động một quân đoàn từ Campuchia về hướng Lạng Sơn, điều động một tiểu đoàn pháo phản lực BM-21, vũ khí vừa được đưa sang từ Liên Xô. Đồng thời tổ chức và huy động lại các đơn vị và các phân đội, biên chế lại một sư đoàn vừa rút ra khỏi vòng vây, tiến hành các hoạt động tác chiến vào sâu trong hậu phương địch.
Trong chiến thắng của quân và dân Việt Nam năm 1979, có sự đóng góp không nhỏ của các cố vấn, chuyên gia kỹ thuật quân binh chủng và một bộ phận các cán bộ chiến sĩ quân đội Liên Xô. Các phi công của phi đoàn máy bay vận tải An- 12 đã tiến hành không vận toàn bộ một quân đoàn từ Campuchia về Lạng Sơn. Hoạt động đặc biệt năng động và sáng tạo là lực lượng chuyên gia thông tin liên lạc của đoàn cố vấn (biên chế có 120 người từ năm 1978 và 68 người được đưa sang ngay khi cuộc xung đột nổ ra), một bộ phận thông tin liên lạc đi cùng với các cố vấn chiến trường, thực hiện nhiệm vụ ngay trong vùng chiến sự. Tháng 3/1979, đoàn cố vấn quân sự Liên Xô chịu một tổn thất không nhỏ, chiếc máy bay của hàng không Việt Nam An-24 khi hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng đã gặp phải sự cố, 6 phi công – huấn luyện viên và thiếu tướng không quân Malyh hy sinh.
Liên Xô đồng thời cũng tiến hành những hoạt động nhằm chấm dứt chiến tranh tại Liên Hiệp Quốc, đại diện chính thức của Liên bang Xô Viết đưa ra yêu cầu đòi xét xử kẻ xâm lược. Ngày 22.2/1979, Tùy viên quân sự Liên Xô tại Việt Nam cảnh cáo: “Liên bang Xô Viết sẽ thực hiện những điều khoản đã ký kết Trong Hiệp định hợp tác, đoàn kết hữu nghị và tương trợ lẫn nhau (trong cả lĩnh vực quân sự) đã được ký với Việt Nam. Nhưng thời điểm đó, xung đột vẫn có thể giới hạn được, Liên Xô cũng không muốn có một cuộc chiến tranh lớn.
Phía phát động chiến tranh xâm lược cũng được cảnh báo trước một điều đã rõ ràng, nếu quân đội của họ không rút khỏi Việt Nam, họ sẽ phải chiến đấu trên hai mặt trận. Tờ thời báo “Times” vào tháng 3.1979 đã viết: “Cho đến khi quân đội Việt Nam vẫn giữ vững mặt trận, Liên Xô tiến hành cuộc chiến tranh trên mặt trận tuyên truyền. Nguy hiểm nằm ở chỗ, nếu nước láng giềng tiếp tục chiến tranh, tấn công Hà Nội và Hải Phòng, hoặc duy trì quân đội của mình trên vùng đất chiếm được. Liên Xô, để thể hiện sự kiên quyết và sức mạnh trước toàn thế giới, giữ lời cam kết với đồng minh, sẽ tham gia giải quyết xung đột.
Trong trường hợp này, những hành động quân sự nào Liên Xô sẽ thực hiện trong thời điểm ban đầu? Các chuyên gia quân sự cho rằng, có quá nhiều sự lựa chọn hiệu quả. Liên Xô có thể tiếp tục tăng cường và tăng cường hơn nữa viện trợ quân sự cho Việt Nam, tăng cường hơn nữa cố vấn và các chuyên gia quân sự hoặc trực tiếp tiến hành các hành động vũ trang. Viễn cảnh đáng lo ngại nhất là những hành động quân sự mà Liên Xô có thể triển khai trên chiều dài 4.500 km đường biên giới Xô - Trung, nơi có 44 sư đoàn sẵn sàng chiến đấu đang đóng quân. Quân đội Liên Xô có thể xuất hiện trên vùng đồng bằng tuyết phủ của Tân Cương, có khả năng tấn công vào Mãn Châu - trung tâm công nghiệp nặng của Trung Quốc. Như một mục tiêu xa hơn cho "ngày tận thế" theo cách gọi của các chuyên gia là mục tiêu các cơ sở hạt nhân của Trung Quốc ở vùng hồ muối Lop Nor (mục tiêu này dường như thích hợp hơn cả trong sự đánh giá của quân đội Liên Xô)" .
Bản tuyên bố của Liên bang Xô Viết lập tức gắn liền cùng với hành động biểu dương sức mạnh. Các đơn vị tên lửa chiến thuật, các sư đoàn đang đóng quân dọc biên giới Xô – Trung đều được chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu số 1. Tập đoàn quân có trong biên chế 250.000 quân nhân với sự yểm trợ của không quân chiến thuật bắt đầu tập trung triển khai lực lượng dọc các tuyến biên giới. Những ý đồ tác chiến thật sự nghiêm túc được ông Eugene, lúc đó là đại đội trưởng đại đội 8 Trung đoàn lính thủy đánh bộ số 390 miêu tả lại: Vào tháng 2-3.1979, đã triển khai và biên chế trung đoàn 390 Lính thủy đánh bộ thuộc biên chế sư đoàn 55 Lính thủy đánh bộ trong trạng thái có chiến tranh, gắn liền với sự kiện tấn công Việt Nam.
Sư đoàn đã thực hiện nhiệm vụ diễn tập chiến thuật trên biên giới với Trung Quốc trong đó có nội dung đổ bộ đường biển, tiến hành các cuộc diễn tập cấp tiểu đoàn có sử dụng đạn thật. Đối với Trung Quốc, điều đó hoàn toàn không bất ngờ, thực tế, người Trung Quốc không hề muốn thử nghiệm tính nghiêm túc của sự việc đang diễn ra và những ý đồ tác chiến của quân đội Liên Xô. Tránh đối đầu, Trung Quốc đã tự cho rằng, mục đích cuộc chiến tranh đã đạt được. Ngày 5.3.1979, Bắc Kinh tuyên bố rút quân hoàn toàn.
Rất nhiều ý kiến, khi đánh giá cuộc chiến tranh biên giới đã khẳng định, PLA trong lĩnh vực tác chiến trên thực tế chiến trường đã phơi bày những điểm yếu của mình, đồng thời cũng nói nhiều về chiến thắng của Trung Quốc trên mặt trận ngoại giao đối với Liên Xô. Không ít ý kiến chỉ trích dường như Liên Xô đã không giúp đỡ được đồng minh của mình, CCCP trên thực tế chỉ là “chú gấu trắng bằng giấy”, những suy diễn này chủ yếu dựa trên cơ sở thực tế, tại sao Liên Xô không tấn công vào biên giới của Trung Quốc, nhưng rõ ràng những suy luận đó thuần túy mang tính cực đoan.
Trên thực tế, một phần nhờ lập trường kiên quyết và cứng rắn của Liên Xô cùng với ý chí kiên cường, lòng dũng cảm và năng lực chiến đấu mạnh mẽ của quân đội và nhân dân Việt Nam đã chặn đứng âm mưu tiến hành cuộc xung đột biên giới kéo dài, buộc kẻ địch phải rút quân mà không đạt được những mục đích đề ra. Quân đội Việt Nam tiếp tục thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng một đất nước Campuchia dân chủ. Mục đích xóa bỏ những vùng đất thuộc Liên bang Xô Viết trên tuyến biên giới Trung – Xô và khẳng định vị thế của Trung Quốc ở châu Á không thành công. Ngoài ra, Việt Nam đã triển khai hàng loạt những hoạt động ngoại giao trên trường thế giới nhằm phá thế bao vây cô lập và đã giành được sự ủng hộ nhất định. Liên bang Xô Viết, từ cuộc phiên lưu chiến tranh biên giới của Trung Quốc đã mở rộng sự hiển diện quân sự của mình trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, xây dựng các căn cứ quân sự và tăng cường viện trợ cho các đồng minh của mình.
(Còn tiếp)
Kỳ sau: Hải quân Liên Xô và gọng kìm Biển Đông
Theo Trịnh Thái Bằng
Tiền phong/Lịch sử Hải quân Liên Xô

Chủ Nhật, ngày 22 tháng 2 năm 2015

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG: TRẢ LỜI MỘT SỐ NGHI VẤN VÀ THẮC MẮC (*)

(*)Dưới đây đăng lại 1 bài viết của GSTS Nguyễn Đình Cống đăng trên FB Nguyễn Đình Cống để tham khảo không nhất thiết là phản ảnh ý kiến của chủ blog Bách Việt 

Vừa qua tôi công bố một số bài có “tính phản động” so với đường lối hiện tại của Đảng cầm quyền, cụ thể là tôi phản biện Chủ nghĩa Mác- Lênin (CNML), cho rằng chủ nghĩa đó mang lại cho nhân loại lợi ít, hại nhiều, làm cho dân tộc VN phạm những sai lầm và thất bại trong kinh tế, văn hóa, đạo đức. Đa số dân VN có nhận thức nhầm lẫn về nó, cho rằng nhờ nó mà VN làm cách mạng thành công, chiến thắng trong các cuộc chiến tranh, xây dựng xã hội tốt đẹp.

Cứ nhìn qua bề ngoài và nghe theo tuyên truyền thì như vậy, nhưng phân tích kỹ và so sánh với con đường của nhiều nước thì không phải vậy. Cứ mỗi lần Đảng tìm cách áp dụng CNML, thực hiện đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, công hữu hóa nền kinh tế là mỗi lần dân tộc chịu thảm cảnh lầm than. Cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp, cải tạo tư sản, phát triển kinh tế quốc doanh, đàn áp các phong trào tự do dân chủ, thực hành toàn trị dẫn tới chuyên quyền tạo ra một tầng lớp quan lại thoái hóa biến chất, làm cho xã hội rối loạn, tham nhũng, mua bán quan tước, gian lận, dối trá tràn lan. Bên trong thì nội bộ mất đoàn kết, mất lòng tin của dân. Bên ngoài thì bị Trung cộng lừa bịp, thao túng, bị lệ thuộc.

Tôi cho rằng nguyên nhân gốc nhiều tệ nạn của xã hội VN hiện nay là do sự phối hợp, sự cộng hưởng giữa một bên là những mặt yếu kém trong tính cách, trong nền văn hóa của người Việt và một bên là những độc hại của CNML. Vì vậy muốn giảm bớt và tiến tới trừ khử các tệ nạn nhằm phát triển đúng hướng và bền vững thì đồng thời phải CHẤN HƯNG DÂN TRÍ và TỪ BỎ CNML. Đề nghị này đã được nhiều bạn thông cảm và tán đồng. Tạm bỏ qua sự ném đá của một số dư luận viên, vẫn có một số bạn nghi ngờ và thắc mắc, yêu cầu tôi giải đáp. Xin tóm tắt trong 4 vấn đề sau:

1- Nghe thầy nói, xem thầy viết thì thấy nhiều ý có thể chấp nhận, nhưng liệu thầy đã làm được gì cho dân tộc hay chỉ là kiểu anh hùng bàn phím, chỉ biết lý luận suông. Thầy hãy làm cái gì đó thiết thực, ích nước lợi dân thì tốt hơn là bàn chuyện giữ cái này, bỏ cái kia.

2- Chúng em đã được học, được tuyên truyền, đã biết Chủ nghĩa Mác-Lê nin là hoàn toàn đúng, là kết tinh trí tuệ của nhân loại, là con đường tất yếu của loài người, thế mà thầy lại bảo trong chủ nghĩa đó chứa đựng độc hại. Xin chỉ rõ ra các độc hại đó. Nếu bảo Chủ nghĩa Mác- Lênin có sai lầm thì tại sao trong mấy chục năm qua VN theo nó mà vẫn có kinh tế phát triển, đời sống vẫn được nâng cao, VN vẫn có quan hệ bạn bè khắp thế giới và uy tín ngày càng tăng.

3- Thầy là một trí thức tuổi đã cao. Thầy nên theo như những đồng nghiệp khác chỉ hoạt động khoa học và xã hội. Về chính trị hãy để cho những người khác lo. Thầy có uy tín với nhiều bạn trẻ. Những ý kiến mang “tính phản động” của thầy sẽ có tác dụng xấu đến tư tưởng các bạn ấy. Trước nhiều tệ nạn của đất nước trong đó có nguy cơ từ Trung cộng, cần củng cố khối đại đoàn kết toàn Đảng toàn dân, việc làm của thầy liệu có ảnh hưởng xấu đến sự đoàn kết đó. Thầy, nếu có năng lực thì nên nghiên cứu những biện pháp hữu ích đóng góp cho Đảng hơn là việc vạch ra những sai lầm rồi để đó. Mà rồi những ý kiến của thầy chỉ như ném hạt cát xuống bể, chẳng có tác dụng gì. Thật là dại dột khi làm một việc mà đã biết rõ là vô ích.

4- Đảng Cộng sản VN hơn 70 năm qua dựa vào Chủ nghĩa Mác-Lênin để lãnh đạo đất nước, nay từ bỏ nó thì sẽ lấy chủ nghĩa nào để thay vào, một đất nước mà không có chủ nghĩa dẫn dắt thì sẽ theo con đường nào để phát triển.

Tạm thời có 4 vấn đề như vậy. Tôi sẽ lần lượt trao đổi trong vài bài liên tiếp. Sau đó nếu bạn nào thấy cần tìm hiểu thêm vấn đề gì mà tôi có điều kiện thì sẽ xin đáp ứng. Thực ra cả 4 vấn đề tôi đã giải đáp rải rác trong một số bài đã đăng trước đây trên trang này như là các bài: Một số nhầm lẫn của Mác. Đối thoại cha con. Đuổi hổ cửa trước, rước sói cửa sau. Kỷ niệm về Bectơrăng Russen. Nguyên nhân gốc của nhiều tệ nạn. Các bạn có thể đọc lại các bài đó để hiểu thêm.

Vấn đề 1. Tóm lược: Thầy đã làm được gì hay chỉ là một lão già lý luận suông.

Trả lới câu này tôi không nhằm thanh minh, vì tôi làm được gì thì những người có trách nhiệm, có liên quan đã đánh giá, không thể để mọi người đều biết. Tôi trả lời vì muốn giúp một số bạn có cách nhìn khoa học trước một vấn đề. Câu hỏi nêu ra một nghi ngờ. Tôi hoan nghênh, vì nghi ngờ là khởi đầu của nhiều đề tài nghiên cứu khoa học. Nhưng nghi ngờ có 2 loại: tích cực và tiêu cực. Nghi ngờ tích cực là đặt ra câu hỏi để tìm tòi, để khám phá nhằm tìm chân lý. Nghi ngờ tiêu cực là để dè bỉu, để phủ nhận và nguy hại hơn là để đưa ra kết luận thiếu căn cứ, làm hiểu sai bản chất. Bạn có thể và nên nghi ngờ công việc của tôi theo hướng tích cực, tôi cũng mong được bạn làm thế. Muốn vậy không có gì khó. Đơn giản nhất là vào Google, gõ tên tôi, sẽ có một số thông tin cơ bản, nhưng còn thiếu nhiều. Tôi sẽ kể thêm.

Năm 2015 tôi 79 tuổi, tôi bắt đầu nghề dạy học từ năm 1959. Mặc dầu đã nghỉ hưu theo chế độ từ 1998 nhưng tôi vẫn liên tục làm NCKH, giảng dạy, viết sách, hướng dẫn nghiên cứu sinh cho đến bây giờ. Tự kiểm điểm tôi thấy mình đã có nhiều đóng góp xứng đáng cho ngành Xây dựng và Giáo dục. Tôi vốn là chuyên gia trong lĩnh vực Kết cấu Bê tông cốt thép. Sách tôi viết (tự tôi viết ra chứ không sao chép của người khác) được dùng để giảng dạy trong nhiều trường Đại học, phục vụ cho hàng ngàn kỹ sư thiết kế.Tôi đã biên soạn tài liệu được dùng làm Tiêu chuẩn của nhà nước, đó là TCVN 5574-91. Là GS về kết cấu nhưng do yêu cầu đào tạo trên Đại học tôi đã tự học để dạy các môn Phương pháp luận NCKH và sáng tạo, môn Lý luận dạy học cho trình độ Thạc sĩ và Tiến sĩ ở nhiều trường. Công trình NCKH mà tôi nhận được giải thưởng về Khoa học Công nghệ ứng dụng năm 2013 mỗi năm tiết kiệm cho ngành xây dựng hàng chục tỷ, hàng trăm tỷ, có thể đến hàng ngàn tỷ đồng. Ngoài ra tôi còn là Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt nam, đã làm chủ tịch và thành viên nhiều Hội đồng xét xử tranh chấp Hợp đồng xây dựng của nhiều công ty nước ngoài, rất có hiệu quả. Hiện nay ở tuổi U 80 tôi vẫn chưa nghỉ ngơi để an phận tuổi già mà hàng năm vẫn hướng dẫn vài trăm học viên thạc sĩ và tiến sĩ khắp các miền đất nước học tập phương pháp NCKH, hướng dẫn hàng chục luận văn, luận án, được nhiều người tin cậy.

Về Cách mạng, gia đình tôi có thời là cơ sở hoạt động của ông Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, cha tôi là liệt sĩ, gia đình tôi được cấp giấy chứng nhận Gia đình có công với CM. Đối với quê hương là Phường Quảng phong, thị xã Ba đồn tôi cũng có nhiều đóng góp đáng kể trong Xây dựng và Giáo dục, được nhân dân trong Phường biết rõ. Điểm qua vài nét như thế thì không thể nghi ngờ là tôi chưa làm được gì đáng kể cho đất nước, không thể nói tôi chỉ lý thuyết suông.

Các bạn nêu yêu cầu: Thầy hãy làm cái gì đó thiết thực… Liệu thế hệ trên dưới 80 tuổi như tôi, theo các bạn thì làm được gì. Bạn bè cùng lứa với tôi một số đã chết, số còn lại kẻ ốm đau, người bệnh tật. Có một ít còn hơi khỏe thì phần lớn chỉ lo giữ thân mạng theo kiểu “Bưng tai bịt mắt làm ngơ. Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây- Nguyễn Khuyến”. Còn lại một ít có chí khí thì chỉ có thể ngo ngoe ngòi bút, lắp bắp cái mồm. Chúng tôi đã đến lúc “lực bất tòng tâm”, không thể xông pha dẫn đầu đoàn biểu tình, không còn sức đi vận động các nơi hoặc phanh ngực ra trước lưỡi lê, mũi súng.

Tôi tự xét thấy việc làm thích hợp nhất, có lợi nhất cho đất nước là góp tiếng nói cổ vũ cho dân chủ, cho sự cải cách, là thức tỉnh một số bạn trẻ biết tự đi tìm chân lý, tránh đi theo đường mà cha ông đã chọn nhầm. Tôi chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực Giáo dục và Xây dựng. Trong các lĩnh vực này tôi vẫn cố đóng góp phần trí tuệ của mình. Ngoài ra tôi có quan tâm đến một số vấn đề chính trị thì vẫn tốt thôi, chẳng có sai phạm gì. Tôi thấy những tiếng nói cổ vũ cho cải cách còn yếu nên mới cố liều cái thân già mà tham gia, nếu phong trào cải cách đã đủ mạnh thì tôi sẽ vui mừng mà nghỉ tuổi già. Những bài viết của tôi nếu được các bạn quan tâm thì chính là có thể giúp cho các bạn một điều gì đó, còn khi các bạn phản bác đúng thì tôi cũng mừng vì một người, khi tìm được căn cứ và lập luận chính xác để phản bác một ý kiến chứng tỏ đã có trưởng thành về tư duy. Chỉ nên và cần hết sức tránh sự phản bác hàm hồ, thiếu căn cứ, thiếu lập luận. (Xem tiếp các vấn đề còn lại vào các kỳ sau).

FB Nguyễn Đình Cống

Thứ Ba, ngày 10 tháng 2 năm 2015

Nhật ký Bệnh nhân

Hầu như lần nào cũng vậy, hễ vào nằm viện đều gặp những nghịch cảnh khó tin nhưng phải tin.  Chúng diễn ra mọi nơi, mọi lúc đối với mọi người nên có thể gọi là  "tai nghe mắt thấy"chứ không phải điều tra khảo sát gì. Dù trong lòng vô cùng bức xúc, nhưng mình luôn tự nhủ lòng hãy kiên nhẫn chờ đợi..., và có bệnh thì "phải vái tứ phương" cho được việc. Tuy nhiên xem ra cái tình trạng "khó tin nhưng phải tin" ấy ngày một thêm nghiêm trọng và nó đang nghiền nát lòng kiên nhẫn của mình.  

Hình ảnh chỉ có tính minh họa
Chả là mới đây mình lại phải nhập viện. Ngoài những thủ tục nhiêu khê phiền toái như vốn có, lần này mình tình cờ được chứng kiến hai sự việc liên quan đến việc ứng dụng công nghệ cao tại cái bệnh viện "ruột" của mình. Đó là khi mình chụp CT 320 lớp cắt được coi là thuộc loại "tối tân nhất nhì Việt Nam" hiện nay và chỉ mới có ở vài bệnh viện trong nước. Để được chụp, mình phải đợi 4 ngày, và để có kết quả phải đợi hơn 1 ngày, vì theo lời một kỹ thuật viên thì ở đây "chúng tôi làm việc rất nghiêm túc, độ chính xác rất cao và rất có uy tín !". Nghe vậy mình thấy yên tâm, thế cũng xứng với cái giá 4.5 triệu đồng/1 lần chụp. 

Tuy nhiên khi nhận kết quả ra ngoài đọc qua,  hai vợ chồng mình ngỡ ngàng với dòng đầu tiên " Gan trái đã cắt phân thùy 1 và 2".... Vì biết rõ bản thân chưa bao giờ cắt gan, minh sinh lo lắng hay là có dịp nào đó đã bị người ta cắt trộm (như báo chí vẫn đưa tin ?) Mình bèn miễn cưỡng trở lại phòng chụp trình bày là bản thân chưa bao giờ cắt gan.... Lúc này các bác sĩ và kỹ thuật viên trong phòng không ai nói gì, một người bảo "bác ra ngoài đợi". Sau đó ít phút một người cầm hồ sơ ra trao lại đồng thời có vẻ tình cờ nói: "...vì phần gan trái của bác bị teo nhỏ nên trông như bị cắt", nghe thật đơn giản. Họ chỉ việc vào máy tính gạch bỏ mấy chữ "Gan trái đã cắt phân thùy 1 và 2) còn lại đều giữ nguyên như bản trước. Vậy làm sao mình có thể tin tưởng vào phần còn lại của  kết quả chụp CT này? Thà đừng chụp còn hơn chụp rồi thêm hoang mang.

Chưa hết. Ngày hôm sau khi đến lượt nút động mạch khối u trong gan (cũng là một một thủ thuật công nghệ cao rất được dư luận ca ngợi tại bệnh viện này), mình may mắn là người đầu tiên vào phòng làm thủ thuật, và tại đây lại chứng kiến sự cố "tắt bụp" của toàn bộ cổ máy đồ sộ, trong đó quan trọng nhất có lẽ là thiết bị nội soi dùng để dẫn đường quá trình đưa thuốc vào khối u. Phải nằm yên chờ đợi mỗi lần máy khởi động lại mình thấy rất lo. Qua ý kiến trao đổi giữa các bác sĩ và kỹ thuật viên thì máy móc gần đây vẫn hay "đình công" như thế. Cũng theo họ "việc này không ảnh hưởng gì đến kết quả nút mạch" (!?)

Máy móc trục trặc là một chuyện. Về cách sử dụng thuốc cho các ca nút mạch tại đây xem ra cũng khá tùy tiện. Bệnh nhân hầu như không biết trước sẽ nút bằng loại thuốc cụ thể nào, số lượng bao nhiêu..., cũng không thấy ghi trong phiếu ra viện, mà chỉ nhận được một mảnh giấy viết tay yêu cầu "mua ....để trả lại" cho phòng nút mạch (đối với bệnh nhân có BHYT), hoặc nộp tiền mặt (đối với bệnh nhân không có BHYT). Được biết những loại thuốc này giá khá cao và ngày càng tăng ...vì phải nhập khẩu (!?). Đối với đa số bệnh nhân, một ca nút mạch thông thường hết trên dưới 10 triệu là món tiền không nhỏ, nhưng điều quan trọng hơn là họ cần được yêu tâm biết chúng được sử dụng như thế nào.               

Bản thân đã nhiều lần chứng kiến cảnh vui buồn thấp thỏm khi được khám và chữa bệnh bằng các thiết bị công nghệ cao như siêu âm, nội soi chụp CT, nút mạch v.v..., nhưng đợt vào viện vừa qua là lần đầu chứng kiến cùng lúc 2 sự cố "trục trặc" như vậy. Phải chăng máy móc thiết bị hiện đại là rất cần thiết, nhưng trình độ, phong cách và y đức của người vận hành còn quan trọng hơn ?  

Thứ Bảy, ngày 31 tháng 1 năm 2015

Tin đồn thất thiệt: Vì sao?

Mấy ngày qua trên mạng đang loan truyền nhiều về trường hợp được cho là "chữa khỏi bệnh ung thư gan" của GS Văn Như Cương với hầu hết các nhân vật và ngày giờ cụ thể khiến bất cứ ai đọc qua cũng thấy hay và bổ ích, đáng rút kinh nghiệm...Khá nhiều người mách bảo  nhau đến ông lang Nguyễn Hữ Nho ở Sóc Sơn, Hà Nội để cắt thuốc...kẻo mất cơ hội ! 
Đây là một trong những bài báo như vậy: http://petrotimes.vn/news/vn/phong-su-dieu-tra/ai-chua-benh-ung-thu-cho-giao-su-van-nhu-cuong.html
Nhưng, với chút KN của một bệnh nhân đã sống sót được gần 4 năm nay, tui thấy bài báo trên không khác gì hàng trăm bài đã lưu truyền trên mạng bấy lâu nay và e rằng nếu tác giả hoặc bản thân GS Văn Như Cương và các bác sĩ trực tiếp tham gia ca bệnh của GS Cương không lên tiếng thì những bài báo như vậy là "lợi bất cập hại" tạo điều kiện cho kẻ xấu kiếm tiền trên nỗi bất hạnh của bệnh nhân.

Thứ Tư, ngày 28 tháng 1 năm 2015

Chuyện bà “Hoa Trung Quốc” và bà “Hoa Việt Nam”

Bùi HOàng Tám /Dân trí, 28/1/2015  - Bà “Hoa Trung Quốc” đây là gọi bà Hoa Xuân Oánh – người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và bà “Hoa Việt Nam” là bà Huỳnh Thị Như Hoa, một ngư dân Việt Nam.

Thứ Tư, ngày 21 tháng 1 năm 2015

Điều gì đang chờ đợi Việt Nam trên Biển Đông năm 2015?


Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn chắc tay súng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Hình minh họa.

Ngày 16/1 tờ The Diplomat đăng bài phân tích của Khang Vu, một nhà phân tích quan hệ quốc tế từ New London, New Hampshire, Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam có thể tận dụng các mối quan hệ với các nước TPP (Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương) để bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông. Những vấn đề đặt ra cho ngoại giao Việt Nam năm 2015 là một mớ hỗn độn, phức tạp, chủ yếu là do căng thẳng với Trung Quốc ở Biển Đông.

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 1 năm 2015

QUAN HỆ VIỆT-TRUNG ĐÃ HẾT THỜI TRIỀU CỐNG (*)

Đối với người Việt và cả người TQ, những năm chẵn thường được coi trọng hơn hơn năm lẻ. Vậy năm 2015 là con số đẹp đáng được chọn để điểm lại mối quan hệ giữa hai nước láng giềng bất đắc dĩ này, đặc biệt trong thời kỳ 70 năm qua và thời gian sắp tới.

Xâm lấn và bành trướng lãnh thổ là bản chất của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán 

Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này