Chủ Nhật, ngày 26 tháng 10 năm 2014

Điểm sách của Bill Hayton: Biển Đông và cuộc chiến tranh giành quyền lực ở châu Á

Tác giả: David Brown/ Người dịch: Trần Văn Minh
Nguồn: Trung Lập vào Chủ Nhật, ngày 26 tháng 10 năm 2014/ Basam/Facebook Dinh Hoàng Thắng

Trong những vấn đề nan giải toàn cầu, tham vọng bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nên được đưa lên hàng đầu, cùng với thay đổi khí hậu, Thánh chiến và chống vi-rút Ebola. Vấn đề dường như không thể kiểm soát, vì thế giải quyết vấn nạn này đã trở thành sự thử nghiệm quan trọng, liệu trật tự quốc tế có thích hợp với một ‘Trung Quốc đang trỗi dậy’ hay không.
Bất kể tính thận trọng của Tổng thống Barack Obama, biết rằng tham gia vào một cuộc chiến ở nước ngoài dễ hơn là giành chiến thắng, sự đe dọa của các chiến thuật mà Bắc Kinh đặt ra trước lợi ích sống còn của Hoa Kỳ, đang lôi kéo Washington vào một cuộc đối đầu khó tránh khỏi với Trung Quốc. Cho tới một vài năm trước, có thể thấy rằng vấn đề Biển Đông là một cuộc tranh cãi giữa các nước ven biển về nguồn cá và tài nguyên dưới đáy biển, bị làm trầm trọng thêm bởi tính dửng dưng của Trung Quốc. Bây giờ đã rõ ràng là Trung Quốc không muốn đàm phán chủ quyền lãnh thổ với các nước láng giềng theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), mà chỉ quan tâm tới những điều có lợi cho họ. Washington đã phải gác lại giấc mơ về quan hệ đối tác toàn cầu với siêu cường mới trỗi dậy của châu Á, trong khi cân nhắc sự kiểm soát các tuyến đường biển quan trọng của Trung Quốc trong tương lai. Theo Bill Hayton thì Biển Đông “là vị trí đầu tiên trong tham vọng của Trung Quốc đưa tới việc đối mặt với quyết tâm chiến lược của Mỹ”.
Đây là một cuộc đối đầu mà chúng ta cần phải hiểu, và Hayton, phóng viên BBC đã từng có thời gian ở Myanmar và Việt Nam, đã cung cấp cốt truyện. Cuốn Biển Đông, với phụ đề Cuộc đấu tranh quyền lực ở châu Á mà ông nghiên cứu kỹ lưỡng và viết thật chải chuốt, đã được xuất bản tại Anh vào cuối tháng 9 và sẽ được Nhà xuất bản Yale Press xuất bản tại Mỹ vào ngày 28 tháng 10. (Cuốn sách được bán trên Amazon với giá 28 USD).
Cuốn sách dày 320 trang của Hayton chắc chắn sẽ được so sánh với một cuốn sách gần đây của Robert Kaplan có cùng chủ đề, Vạc dầu châu Á: Biển Đông và sự kết thúc của Thái Bình Dương ổn định. Đó là hai cuốn sách khác nhau. Kaplan tung ra sự khái quát nhẹ nhàng về bản sắc, lợi ích quốc gia và nỗi ám ảnh có tham vọng của các nhà lãnh đạo châu Á. Kaplan cho biết, tất cả là sự cân bằng quyền lực, một cuộc cạnh tranh diễn ra “trong cảnh quan mới và có phần hoang vu này của thế kỷ 21″. Đông Nam Á trong mắt ông là một nơi mà Trung Quốc có sứ mệnh đưa những nước chư hầu ngày xưa trở lại quỹ đạo thích hợp của họ và là nơi, nếu Washington thực tế trong sự phân tích, thì phải vui vẻ nhường lại vị thế ưu tiên cho Bắc Kinh.
Ngược lại, Hayton thì giải thích. Các chương mở đầu của ông đã dễ dàng dẫn độc giả đi qua năm ngàn năm trên Biển Đông, rằng đó là một khu vực chung bị chi phối bởi những nhà thám hiểm tiền-Mã Lai. Sau đó, các đế quốc thương mại trỗi dậy và suy tàn: Phù Nam, Champa, Majahapit và Malacca. Vào khoảng năm 1400, lần đầu tiên và duy nhất trước thời đại hiện nay, Trung Quốc trong một thời gian ngắn đã trở thành một cường quốc biển, gửi các đội tàu lớn tới Ấn Độ và Đông Phi trước khi chuyển sự chú ý của mình vào nội địa. Người Âu Châu trong việc tìm kiếm các loại gia vị, đồ gốm và lụa, đến vào những năm 1500. Tây Ban Nha thiết lập quyền thống trị trên quần đảo Philippines; ba thế kỷ sau đó, Pháp ở Đông Dương và Anh tại các bang Malay đã tạo ra các thuộc địa của họ và thậm chí bắt buộc Trung Quốc phải quy phục trước chính sách ngoại giao pháo hạm.
Những người Âu Châu, với ý định phân định ranh giới và thiết lập độc quyền lãnh thổ, đã vô tình đặt nền móng cho ý thức tinh thần quốc gia mãnh liệt, vào giữa thế kỷ 20, trở thành cựu thuộc địa và nhượng địa của họ. Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Trung Hoa (cả chính phủ Đài Loan và Bắc Kinh) tất cả tuyên bố những mảng lớn và chồng chéo trên một vùng biển mở rộng mà trong quá khứ đã nối kết họ với nhau thay vì phân chia. Tất cả đã hối hả dựng quốc kỳ của họ trên các rạn san hô, đá và những đảo nhỏ (những ‘cụm’ tập hợp) rải rác trên vùng biển rộng lớn.
Tấm thảm đắt giá mà Hayton dệt tự nó có sức hấp dẫn, nhưng tầm quan trọng đáng chú ý là sợi chỉ ông cẩn thận kéo ra: Đòi hỏi chủ quyền dựa trên chứng cứ lịch sử của Trung Quốc ở vùng biển phía nam Hồng Kông và đảo Hải Nam chủ yếu là rác vụn. Bằng chứng của Trung Quốc đơn giản là không đứng vững trước biên niên sử của các chúa Nguyễn ở Việt Nam, vào khoảng năm 1750, đã phái những cuộc thám hiểm hàng năm đến cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Người Việt Nam chủ yếu khai thác các tàu đắm, chắc chắn như thế, nhưng họ đã để lại những dấu vết và lưu giữ hồ sơ cẩn thận.
Trớ trêu thay, người Việt Nam đã ngưng dựa vào những bằng chứng lịch sử của riêng mình. Thay vào đó, họ dựa vào các quy định phân chia vùng biển được hệ thống hóa trong Công ước Quốc tế về Luật biển, có hiệu lực từ năm 1994. Philippines và Malaysia cũng như vậy. Luật pháp quốc tế là nơi trú ẩn của các quốc gia nhỏ và yếu hơn. Đối với các quốc gia mạnh có ý đồ gỡ bỏ những nỗi nhục trong quá khứ, thì luật pháp quốc tế thường là sự phiền toái bất tiện. Nhà cầm quyền Bắc Kinh có lẽ biết luận điểm pháp lý của họ yếu kém; họ có thể suy diễn rằng Trung Quốc lẽ ra đã thống trị các vùng biển lân cận nếu không bị Tây phương và Nhật Bản áp bức. Đối với một thường dân Trung Quốc vấn đề đó thật giản dị. Các giáo viên và truyền thông đại chúng đã thuyết phục ông ta rằng chủ quyền của Bắc Kinh trên các vùng biển phía Nam và các quần đảo là “không thay đổi” và “không thể tranh cãi.”
Các nhà phân tích – trong số đó gồm có Hayton và tác giả bài viết này – khó có thể giải thích vì sao Bắc Kinh quá ngạo mạn, làm sứt mẻ sự kính trọng [của thế giới dành cho họ] để cho đến gần đây họ đã phải cố gắng hết sức để lấy lại. Hayton thử đưa ra quan điểm cho rằng giới lãnh đạo hải quân, các công ty dầu mỏ và chính quyền địa phương đã mạnh mẽ theo đuổi chính sách đối ngoại tự lập, kéo theo những nhà lãnh đạo cấp cao không muốn lộ vẻ yếu đuối. Lập luận trên không đứng vững trong thời đại Tập Cận Bình; trong những năm gần đây chiến thuật của Trung Quốc đã được phối hợp nhịp nhàng một cách đáng chú ý.
Các nhà phân tích khác đổ lỗi cho cơn khát dầu hỏa và khí đốt dữ dội của siêu cường đang lên. Không nghi ngờ rằng sự tăng trưởng trong tương lai của Trung Quốc phụ thuộc vào nguồn cung cấp phong phú của cả hai. Nhưng chắc phải có nghi ngờ rằng Biển Đông là “Vịnh Ba Tư thứ hai” thường được đề cập trong phương tiện truyền thông Trung Quốc. Hơn nữa, ngang bằng với tỷ giá hối đoái, Trung Quốc đã không có khó khăn tìm nguồn cung ứng dầu khí bên ngoài khu vực, cũng như không nước nào có lợi ích để can thiệp vào mối thương mại đó.
Những quan sát viên phương Tây không cố gắng tìm hiểu vấn đề thường có xu hướng coi những yêu sách và tham vọng của Trung Quốc không kém giá trị hơn tất cả những nước khác. Kaplan đi xa hơn, xem luật pháp quốc tế thực ra không thích đáng trong tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, tầm mức to lớn của yêu sách lãnh thổ và chiến thuật được sử dụng trong việc theo đuổi mục tiêu của Trung Quốc, là rất quan trọng đối Mỹ và các quốc gia có lợi ích lớn trong việc duy trì một trật tự thế giới hòa bình, dựa trên luật pháp và tự do mậu dịch. Các nhà phân tích này cho rằng một “Trung Quốc đang trỗi dậy” sẽ chỉ chơi theo luật khi phù hợp với lợi ích của họ. Điều đó có nghĩa rằng, Hayton kết luận, khu vực rộng 3.5 triệu kilomet vuông này — vùng ‘biển kín’ lớn nhất thế giới — đã trở thành nơi mà bản chất khác biệt giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ có ngày xung đột.”
Mỗi năm trôi qua, sự căng thẳng tăng cao hơn. Một động lực không ổn định khó tránh khỏi việc sẽ kéo Mỹ và đồng minh châu Á chủ yếu là Nhật vào, để hỗ trợ Việt Nam và Philippines. Trung Quốc không cho thấy có dấu hiệu dịu xuống. Chưa nhìn thấy một kết cuộc hài hòa.
Tái bút: Trớ trêu thay, Bill Hayton không được chào đón tại Việt Nam. Ông là thông tín viên thường trú của BBC tại Hà Nội trong năm 2007-2008. Rõ ràng là các bài viết của ông vào thời điểm đó đã gây khó chịu cho nhà cầm quyền. Khi Hayton nộp đơn xin visa tham dự một cuộc hội thảo tháng 11 năm 2012 về các vấn đề Biển Đông do Học viện Ngoại giao Việt Nam tổ chức, ông đã bị từ chối. Vài tháng sau, Hayton nộp đơn một lần nữa, đặc biệt với yêu cầu phỏng vấn các quan chức Việt Nam cho cuốn sách sắp tới của mình. Một lần nữa ông lại bị từ chối. Kết quả là phần trong cuốn sách của Hayton nói về Việt Nam và Biển Đông tương đối “mỏng” — thiếu những chi tiết để thu hút độc giả mà cuộc nói chuyện với các chuyên gia Việt Nam có thể sẽ cung cấp. Đó là một điều đáng tiếc – và một câu chuyện khác (cho đến nay) có kết cuộc chẳng mấy hay ho gì!
Tác giả: David Brown
Người dịch: Trần Văn Minh
David Brown là một nhà ngoại giao Mỹ đã về hưu, là người viết về các chủ đề Đông Nam Á với sự quan tâm đặc biệt đến Việt Nam đương đại. Có thể liên lạc với ông tại địa chỉ nworbd@gmail.com.
—–
Ghi chú: Bản tiếng Anh đã được đăng trên trang Asia Sentinel: Book Review: The South China Sea: The Struggle for Power in Asia. Một bản khác, tác giả viết riêng cho các độc giả Việt Nam, có phần khác với bản này.

Thứ Sáu, ngày 24 tháng 10 năm 2014

Tìm hiểu về chuyến thăm TQ của Đoàn Bộ trưởng Quốc phòng VN


Báo TQ xuyên tạc: Đoàn Tướng VN sang TQ để cầu hòa "  Đông Bình - GDVN  24/10/2014.  


Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh vừa có chuyến thăm Trung Quốc
Trang mạng sina Trung Quốc ngày 23 tháng 10 đăng bài viết nhan đề "Vì sao Quân đội Việt Nam bất ngờ thăm Trung Quốc cầu hòa, Mỹ có hỗ trợ lớn hơn". Để khách quan nhất, báo GDVN xin đăng tải toàn bộ nội dung bài báo để độc giả rộng đường tham khảo.
Theo bài báo, ngày 17 tháng 10, tại Bắc Kinh, Ủy viên Quốc vụ kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đã tổ chức hội đàm với Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh, hai bên đã đạt được đồng thuận “nguyên tắc 3 điểm” về việc tiếp tục phát triển quan hệ quân sự hai nước. Ba điểm đồng thuận này là:
Một, căn cứ vào phương châm 16 chữ "ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện" và tinh thần 4 tốt "láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt", từng bước khôi phục và thúc đẩy quan hệ quân sự hai nước phát triển lành mạnh ổn định.
Hai, quân đội hai nước tăng cường đoàn kết, tiến hành bảo đảm vững chắc cho củng cố địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản, bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hai nước.
Ba, tuân thủ đồng thuận quan trọng liên quan của các nhà lãnh đạo hai đảng, hai nước Trung-Việt, phát huy vai trò quan trọng trong việc xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển, bảo vệ cục diện hòa bình, ổn định.
Trung Quốc kéo giàn khoan dầu khí Hải Dương Thạch Du 981 và một lực lượng quân sự, bán quân sự quy mô lớn vào vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam nhằm thực hiện mưu đồ ăn cướp trắng trợn biển đảo của Việt Nam (ảnh tư liệu).
Bài báo cho rằng, từ đầu năm 2014 đến nay, quan hệ Trung-Việt nhiều lần xảy ra vấn đề, quan hệ Trung-Việt tiếp tục bị thách thức nghiêm trọng. Hơn nữa, từ đầu năm đến nay, các nhà lãnh đạo Việt Nam luôn thể hiện cứng rắn, đặc biệt là thể hiện tư thế quyết không nhượng bộ trong vấn đề Biển Đông.
Luận điệu xuyên tạc cho rằng: Trong bối cảnh này, Phó bí thư Quân ủy Trung ương đại diện cho Đảng Cộng sản và Quân đội Việt Nam tại sao lại bất ngờ thăm Bắc Kinh “cầu hòa”? Dưới đây có một số phân tích vắn tắt.
Tiếp tục thói quen “gắp lửa bỏ tay người”, báo Trung Quốc cho rằng, từ khi Mỹ thực hiện chiến lược quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương, tình hình Biển Đông bắt đầu bất ổn. Ở Biển Đông, 2 nước rõ ràng đã có thái độ "rất không hữu nghị" với Trung Quốc là Philippines và Việt Nam.
Đối với Philippines, Trung Quốc chủ yếu để ý đến tình hình Mỹ đóng quân ở nước này, thực lực của bản thân Philippines quá yếu, khó gây ra sóng lớn. Trên thực tế, mấy năm gần đây, Philippines "nhảy lên" càng cao, thiệt hại thực tế càng lớn, đất nước hoàn toàn không đạt được lợi ích thực tế.
So với Philippines, Việt Nam thì khác. Theo bài báo, Việt Nam cách Trung Quốc gần, thực lực quân sự mạnh, đã tạo ra “mối đe dọa” nhất định đối với "an ninh của Trung Quốc ở Biển Đông". Hơn nữa, Việt Nam "chiếm đảo đá của Trung Quốc" ở Biển Đông nhiều nhất (thực tế là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, còn Trung Quốc là kẻ xâm lược, bành trướng lãnh thổ).
Bài báo nói thêm, Việt Nam đã có rất nhiều mỏ dầu ở Biển Đông, giá trị kinh tế của những mỏ dầu này năm 2010 đã chiếm 30% GDP của Việt Nam. Vì vậy, có thể thấy, Biển Đông đem lại lợi ích thực tế thực sự cho Việt Nam. Báo Trung Quốc cho đây chính là “nguyên nhân căn bản” tại sao vào tháng 5 năm 2014, khi giàn khoan dầu khí Trung Quốc thăm dò dầu mỏ ở Biển Đông (vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam), Việt Nam không tiếc tiến hành "đối đầu, quấy rối" (thực tế là Việt Nam thực thi pháp luật tại các khu vực có chủ quyền chính đáng của mình) trên biển quy mô lớn với Trung Quốc.
Trung Quốc khủng bố Việt Nam ở vùng biển chủ quyền của Việt Nam (ảnh tư liệu)
Nhưng, theo bài báo, đương nhiên, "ân oán" giữa Trung-Việt cũng không đơn giản như vậy, cũng tuyệt đối không chỉ là nhân tố kinh tế, nhân tố lãnh thổ, mà còn pha trộn nhân tố lịch sử, nhân tố địa-chính trị và nhân tố nội bộ của Việt Nam (trên thực tế, suy cho cùng, nhân tố quan trọng nhất chính là Trung Quốc muốn ăn cướp toàn bộ biển đảo của Việt Nam và nước khác ở Biển Đông).
Báo Trung Quốc cho rằng, nhân tố lịch sử rất dễ lý giải, Trung-Việt trong thời kỳ Hồ Chí Minh là quan hệ "đồng chí + anh em". Bài báo tự nhận là, Đảng Cộng sản Việt Nam "trỗi dậy" dưới sự "nâng đỡ" của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc càng “dốc sức” viện trợ Việt Nam, giá trị các loại vật tư Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam là “20 tỷ nhân dân tệ” (bài báo nhấn mạnh, vào thời điểm đó Trung Quốc còn rất nghèo mà lại viện trợ nhiêu như vậy), đã cử "mấy trăm nghìn quân" tiến hành chi viện.
Nhưng, cùng với quan hệ Trung-Xô đoạn tuyệt và quan hệ Trung-Mỹ ấm lên vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, giữa Trung-Việt bắt đầu "rạn nứt", cộng với Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời vào năm 1969... quan hệ Trung-Việt cũng bắt đầu đi xuống.
Bài báo tuyên truyền xuyên tạc cho rằng, vào thập niên 1970, dưới sự hỗ trợ của Liên Xô, Chính phủ Việt Nam (thống nhất nam bắc) bắt đầu "cắt đứt" với Trung Quốc. Thậm chí bài báo bịa đặt trắng trợn cho là Việt Nam còn chuẩn bị thông qua "chiến tranh" kiểm soát toàn bộ Đông Dương, và Liên Xô giúp Việt Nam "xâm lược nước khác, chiếm toàn bộ bán đảo Đông Dương" là do Liên Xô muốn tạo thế "bao vây chiến lược" đối với Trung Quốc.
Tàu Kiểm ngư KN 951 của Việt Nam sau khi bị Chính phủ Trung Quốc chỉ đạo khủng bố vũ lực
Bài báo cho rằng, vì cái cớ nêu trên, Trung Quốc cuối cùng đã phát động cái gọi là "cuộc chiến tranh phản kích tự vệ" đối với Việt Nam (thực chất đây là một cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc đối với Việt Nam vào năm 1979, gây ra bao đau thương cho nhân dân Việt Nam).
Theo bài báo, từ đó, Trung Quốc và Việt Nam đã chuyển hoàn toàn từ quan hệ"đồng chí + anh em" sang quan hệ đối đầu. Loại quan hệ này kéo dài cho đến khi Liên Xô sụp đổ, Việt Nam mới "chịu sức ép", xây dựng lại quan hệ ngoại giao với Trung Quốc (kẻ xâm lược miền bắc Việt Nam năm 1979, xâm lược biển đảo Việt Nam năm 1974, 1988…).
Bài báo cho rằng, Trung Quốc và Việt Nam tuy đều có chế độ xã hội chủ nghĩa, đều từng cùng chống Mỹ, nhưng quan hệ Trung-Việt khó nói là "sắt". Hơn nữa, do nhân tố lịch sử, giữa Trung-Việt thiếu lòng tin thực sự.
Hơn nữa, Việt Nam đã "chiếm rất nhiều đảo đá của Trung Quốc" ở Biển Đông (thực tế là trái ngược, Trung Quốc mới chính là kẻ xâm lược biển đảo của Việt Nam và tự nhận hầu hết Biển Đông về nó), cảnh giác hơn với (mưu đồ và hành động xâm lược) của Trung Quốc. Do đó, Việt Nam luôn tìm cách dựa vào nước lớn để có được "con bài" cân bằng với sức ép chính trị (mưu đồ đen tối) từ Trung Quốc.
Bài báo cho rằng, năm 2010, khi Mỹ thực hiện chiến lược quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương, Việt Nam đã nhìn thấy cơ hội. Do có vị trí địa lý (quan trọng, chiến lược), Việt Nam muốn tận dụng thời cơ Mỹ quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương, “mượn sức mạnh của Mỹ để cân bằng với Trung Quốc”. Đối với Mỹ, nếu như Trung Quốc nắm được Biển Đông thì đã nắm hoàn toàn yết hầu (cổ họng) thương mại giữa Đông Á với bên ngoài.
Trong khi đó, khi Mỹ và phương Tây nhập khẩu hàng hóa của Đông Á và xuất khẩu hàng hóa tới Đông Á, tàu thương mại đều phải đi qua Biển Đông, điều này làm cho Mỹ rất lo ngại, cũng là nguyên nhân căn bản Mỹ tìm cách quay trở lại Philippines, tận dụng đầy đủ Việt Nam để chống lại Trung Quốc. Do sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ, tầm quan trọng địa-chính trị của Việt Nam bắt đầu lại tăng lên, Việt Nam cũng bắt đầu tìm cách tận dụng điều đó để có được cân bằng địa-chính trị.
Tàu cá Việt Nam sau khi bị Trung Quốc cho phép khủng bố vũ lực tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (ảnh tư liệu)
Bài báo võ đoán cho rằng, đương nhiên, Việt Nam cứng rắn với Trung Quốc còn có nhân tố chính trị bên trong của họ. Bài viết đã bàn lung tung về việc phân chia quyền lực giữa các cơ quan đảng-nhà nước-chính phủ của Việt Nam, đó là những quan điểm võ đoán và xuyên tạc, có ý đồ nói xấu Việt Nam, kích động chia rẽ nội bộ Việt Nam. Bài báo coi nhân tố bên trong này đã ảnh hưởng tương đối lớn đến quan hệ Trung-Việt.
Báo Trung Quốc cho rằng, ngày 26 tháng 8 năm 2014, để khôi phục quan hệ Trung-Việt, Thường trực Ban bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Hồng Anh đã sang Trung Quốc. Nhưng, theo bài báo, quan hệ Trung-Việt vừa dịu lại thì Mỹ lại dùng "chiêu mới" để thách thức. Cuối tháng 9, Mỹ tuyên bố chuẩn bị dỡ bỏ cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam vào cuối năm 2014, trong đó có Ngoại trưởng Mỹ John Kerry.
Điều này có tác động rất mạnh, thậm chí Mỹ chuẩn bị bán máy bay trinh sát săn ngầm P-3C cho Việt Nam. Loại trang bị quân sự cao cấp này trước đây Mỹ chỉ bán cho đồng minh, trong khi đó Việt Nam và Mỹ thậm chí còn "chưa tin nhau hoàn toàn".
Báo Trung Quốc dùng lời đường mật chia rẽ và xuyên tạc cho rằng, Mỹ sở dĩ làm như vậy là để "kích động Việt Nam nhiệt tình chống Trung Quốc", "tiếp tục thách gây căng thẳng ở Biển Đông". Ý của Mỹ là, nếu cần, Mỹ có thể coi Việt Nam là "đồng minh", thậm chí đánh nhau với Trung Quốc.
Về phản ứng của Việt Nam, khi đang tham dự hội nghị ở Liên hợp quốc, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh đã trả lời Ngoại trưởng Mỹ John Kerry rằng, hoan nghênh Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí đối với Việt Nam. Điều này Trung Quốc không cần phải lo ngại, bởi vì Việt Nam không mua vũ khí của Mỹ thì cũng mua vũ khí của nước khác. Bài báo chộp lấy phát biểu này mà cho rằng, điều này cho thấy rõ "Việt Nam chắc chắn sẽ phân cao thấp với Trung Quốc ở Biển Đông, nhất định sẽ vũ trang cho bản thân". Bài báo muốn chia rẽ nội bộ Việt Nam, cho rằng, phản ứng từ phía Đảng và Quân đội Việt Nam không mạnh mẽ như vậy (...).
Trung Quốc đang tổ chức lấn biển xây đảo quy mô lớn một cách bất hợp pháp ở các đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong hình là đá Gaven (ảnh tư liệu)
Theo bài báo, Trung Quốc hiện nay đang lấn biển, xây dựng rầm rộ (bất hợp pháp) ở 6 đá ngầm (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam) trên Biển Đông, những đá ngầm này đều sẽ là "căn cứ quân sự" của Trung Quốc (dùng cho chiến tranh xâm lược tương lai). Có căn cứ sẽ có quy mô như căn cứ quân sự Diego Garcia của Mỹ ở Ấn Độ Dương.
Bài báo cho rằng, quyết tâm (ăn cướp toàn bộ biển đảo) ở Biển Đông của Trung Quốc rất rõ ràng, đó chính là muốn kiểm soát thực tế (bất hợp pháp), tránh để Mỹ can thiệp Biển Đông. Muốn làm được điều này, bài báo đề xuất cho rằng, Trung Quốc cần có năng lực quân sự mạnh ở Biển Đông.
Bởi vì, bài báo tưởng tượng viển vông cho rằng, Biển Đông vừa là "cơ sở năng lượng" tương lai của Trung Quốc, vừa là nút địa-chính trị quan trọng hội nhập với ASEAN của Trung Quốc, thậm chí là nút trung tâm kiểm soát tuyến đường hàng hải Đông Á và phương Tây của Trung Quốc, Trung Quốc chỉ có nắm được những con bài này, việc mặc cả về thương mại với phương Tây mới có quyền chủ động cân bằng.
Bởi vì, khi Mỹ có năng lực cắt đứt tuyến đường hàng hải vận chuyển tài nguyên tới Trung Quốc, Trung Quốc cũng cần có năng lực tiến hành đáp trả. Nếu không, trong những thời điểm quyết định sẽ không có cách gì chống đỡ nổi, sẽ bị người khác kiềm chế. Đương nhiên, Trung Quốc làm như vậy cũng còn để "bảo vệ quyền lợi lãnh thổ và lãnh hải" (Trung Quốc sẽ không bao giờ có được lãnh thổ, lãnh hải dưới đảo Hải Nam một cách hợp pháp).
Quyết tâm của Trung Quốc ở Biển Đông là “chiến lược toàn cầu”, là “lợi ích cốt lõi”, là “không thể thay đổi”. Những “lợi ích cốt lõi” (đi ăn cướp) này tất nhiên xảy ra xung đột với lợi ích hiện thực của Việt Nam, bởi vì Việt Nam (có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và) đã thu được lợi ích to lớn từ khai thác dầu khí ở Biển Đông.
Trên thế giới, chưa có nước nào mời thầu dầu khí ở vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của nước khác, của Trung Quốc. Hơn nữa, Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh còn nhấn mạnh: Chưa nước ASEAN nào kéo giàn khoan vào vùng biển thềm lục địa của Trung Quốc theo luật pháp quốc tế. Nhưng, Trung Quốc đã có cả hai hành vi vô đạo này ở vùng biển chủ quyền của Việt Nam (ảnh tư liệu)
Bài báo vẫn ngang nhiên coi các đảo đá ở Biển Đông là của Trung Quốc, cho rằng, nếu Việt Nam sẵn sàng ngồi xuống đàm phán, hai bên có thể tìm được một phương thức thỏa hiệp “tương đối có lợi và cùng thắng”. Trái lại, nếu Việt Nam "lấy làm của riêng", Trung Quốc chắc chắn sẽ đáp trả. Như vậy, về khách quan, Trung Quốc và Việt Nam “tồn tại khả năng xung đột quân sự, thậm chí dẫn tới chiến tranh ở Biển Đông”. Đặc biệt, khi Chính phủ Việt Nam mà bài báo bịa đặt ra cái gọi là "thân phương Tây".
Bài báo cho rằng, trong tình hình này, Đảng Cộng sản Việt Nam cử Phó bí thư Quân ủy Trung ương sang thăm Trung Quốc và đạt được 3 đồng thuận nêu trên với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, là "thuốc an thần" mà Quân đội Việt Nam trao cho phía Trung Quốc "ăn", ý là nói Việt Nam sẽ không thách thức lợi ích chiến lược của Trung Quốc, Việt Nam sẵn sàng duy trì hợp tác với Trung Quốc...
Đồng thời, việc Trung Quốc cho xây dựng quy mô lớn (bất hợp pháp) ở Biển Đông cũng làm cho Việt Nam lo ngại. Bài báo cho rằng, Việt Nam vừa không có khả năng ngăn chặn Trung Quốc, vừa không có khả năng xây dựng quy mô lớn ở Biển Đông như Trung Quốc. Việt Nam hoàn toàn không biết rõ ý đồ của Trung Quốc nên đã cử quan chức quân sự cấp cao đến thăm dò chiến lược Biển Đông của Trung Quốc.
Bái báo này viết: Nhưng, hiện nay, Việt Nam đã khác nhiều so với trước đây, người dân Việt Nam một phần có tư tưởng "chống Trung Quốc", đặc biệt là miền Nam - nơi có kinh tế phát triển. Vì vậy, điều này sẽ tác động đến tương lai của quan hệ Trung-Việt, Mỹ-Việt. Hơn nữa, chiến lược quốc gia của Trung Quốc là "không thay đổi trước thái độ của Việt Nam".
Việt Nam tăng cường quan hệ với các nước lớn, trong đó có Mỹ (ảnh tư liệu)
Cho nên, bài báo tiếp tục “quân sư” cho Bắc Kinh rằng, Trung Quốc vẫn cần đẩy nhanh xây dựng hạ tầng (bất hợp pháp) ở Biển Đông, tăng cường năng lực kiểm soát thực tế và bố trí quân sự (bất hợp pháp) đối với Biển Đông. Đồng thời, Trung Quốc còn phải làm tốt chuẩn bị "dụng binh" (xâm lược) ở Biển Đông, bởi vì một khi có sự, Trung Quốc phải “kiểm soát tuyệt đối Biển Đông”.
Bài báo cho rằng, điều Trung Quốc đặc biệt cần tránh là “Việt Nam và Mỹ kết thành liên minh đối đầu với Trung Quốc”, cho dù hiện nay còn chưa lộ rõ dấu hiệu này, nhưng, nhìn vào việc Chính phủ Việt Nam “hưởng ứng tích cực” việc Mỹ dỡ bỏ cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam, một khi giành được sự ủng hộ lớn hơn của Mỹ, Việt Nam rất có thể sẽ tiếp tục thay đổi thái độ, “thách thức thực sự” đối với Trung Quốc. Trung Quốc phải chuẩn bị tâm lý đầy đủ đối với vấn đề này.

Thứ Ba, ngày 21 tháng 10 năm 2014

TQ không phải "thế lực thù địch" thì là ai đây?

Như tin tức đã loan báo, từ ngày 16-18/10 Đại tướng Phùng Quang Thanh đã dẫn đầu đoàn quân sự cấp cao gồm 13 tướng lĩnh sang thăm chính thức TQ. Trả lời báo chí bên lề phiên khai mạc kỳ họp QH sáng nay Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cho biết mục đích chuyến đi là nhằm "tăng cường thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa quân đội của hai nước cũng như Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước". Giải đáp mối lo ngại của nhiều chuyên gia trước việc TQ xây dựng căn cứ quân sự và đe dọa an ninh hàng hải trong khu vực, Bộ trưởng cho rằng "đó là lo ngại của các nhà nghiên cứu", nhưng theo ông "điều quan trọng nhất là hai bên đã thỏa thuận phải hợp tác theo tinh thần hữu nghị của lãnh đạo 2 Đảng, Nhà nước, giữ gìn môi trường ổn định, hòa bình và kiểm soát hoạt động của lực lượng vũ trang của hai nước trên biển, không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và để xảy ra xung đột vũ trang ở trên biển". Khi có người hỏi phía họ có hứa gì không, ông Thanh nói "Hứa thì không hứa, nhưng nói chung là...". 

Bất cứ ai theo dõi tình hình quan hệ Việt-Trung đều cảm nhận chuyến đi nặng về hình thức hơn là thực chất. Đã nhiều lần hai đảng, nhà nước, quân đội hai nước thỏa thuận như vậy rồi, nhưng đều bị phá vỡ do tham vọng độc chiếm Biển Đông của TQ.  Thôi thì, dù sao cũng có thể hiểu được chuyến đi theo tinh thần truyền thống mềm dẻo, khôn khéo của dân tộc Việt Nam ngàn đời nay vẫn thế. Tuy nhiên, về thực chất chuyến đi cho thấy bước thụt lùi cơ bản về thế và lực của VN trước đối phương.

Một là, trong nội dung làm việc, phía VN đưa ra một số đề nghị không quan trọng mang tính chất đơn phương theo kiểu "xin cho" như mở lại cửa khẩu du lịch, thực hiện nhân đạo với ngư dân, v.v... nhưng không phản đối việc TQ mở rộng sân bay quân sự tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa đồng thời ráo riết đẩy nhanh tiến độ nhằm biến các đảo và bãi ngầm họ vừa chiếm được tại quần đảo Trường Sa thành những căn cứ quân sự. Trong bối cảnh này thì lời đề nghị "giữ nguyên hiện trạng" trên biển đồng nghĩa với sự khuất phục của Hà Nội đối với Bắc Kinh.       

Hai là, việc người đứng đầu quân đội VN kêu gọi hai bên (VN và TQ) không để các thế lực thù địch lợi dụng tình hình Biển Đông... đã phát đi một thông điệp nhầm lẫn nguy hiểm. Cụm từ "thế lực thù địch" nếu nói trong nước hoặc tại một diễn đàn quốc tế ai muốn hiểu sao cũng được, nhưng với Bắc Kinh mà nói vậy thì chỉ có cách hiểu Mỹ hoặc nước a, b, c nào đó là thù địch, còn TQ không phải là thù địch. Nó cho thấy não trạng mơ hồ về địch/ta giống hệt câu chuyện truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy của ngàn năm trước. Điều nguy hiểm là, từ nay quân và dân ta không biết chĩa súng vào đâu để bảo vệ chủ quyền biển đảo. 

Thật đáng buồn thay cho dân tộc vừa mất 1/2 thế  kỷ liên tục hy sinh phấn đấu vì độc lập và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia mà nay vẫn chưa ra khỏi vòng u mê của thời truyền thuyết. Buồn cho đất nước mãi luẩn quẩn trong vòng kim cô "ý thức hệ". Những tưởng bài học từ vụ Giàn khoan 981 đã là bài học cuối cùng để chú gà con tránh xa cái hang ổ của con cáo già. Nhưng rốt cuộc đó cũng chỉ là một bài học nữa trong chuỗi bài học mà Đặng Tiểu Bình muốn dạy Việt Nam mà thôi./.      


Thứ Bảy, ngày 18 tháng 10 năm 2014

Càng nhiều dự án càng nghèo

Ở VN ngày nay bất cứ một dự án nào cũng  là "chùm khế ngọt" và căn bệnh "thích dự án" đã trở thành kinh niên gắn liền với tệ nạn tham nhũng ở mọi cấp độ trên quy mô cả nước. Có lẽ đó là nguyên nhân tại sao mức chi phí của các dự án VN bao giờ cũng cao gấp nhiều lần so với thế giới. Đó là chưa kể các khoản chi "phát sinh" vì những lý do không rõ ràng. Các khoản chi để "sửa chữa khắc phục" trong thời kỳ hậu dự án cũng rất lớn. Với tất cả các loại chi phí chồng lấn lên nhau như vậy thường rất khó xác định tổng chi phí thực sự của một dự án. 


Tuy nhiên ta có thể làm một vài so sánh với những thông tin và số liệu sẵn có trên mạng internet để thấy sự thất thoát ngân sách  ở VN kinh khủng đến mức nào. Vẫn biết mọi so sánh đều có sự khập khiễng nhất định, nhưng không so sánh thì không thấy sự chênh nhau rất vô lý giữa VN và thế giới. Dưới đây là một vài ví dụ.



Đường Ô Chợ đừa (Hà Nội) dài 547m với tổng mức đầu tư hơn 642 tỉ đồng (trung bình hơn 1,1 tỉ đồng mỗi mét, tức là hơn 50 triệu đô/km, và được mệnh danh là "đường đắt nhất hành tinh".

Đường Láng-Hoà Lạc dài 30 km, 6 làn xe chi phí tương đương 410 triệu đô la, tính ra chi phí 13,7 triệu đô la cho 1km. 

Đường cao tốc Hà Nội-Lào Cai dài 245, 4 làn xe, có nơi chỉ có 2 làn xe, chi phí hết 1,47 tỷ đô la, vị chi 6 triệu đô la cho 1km.

Một đoạn mặt đường rạn nứt của Cao Tốc Hà Nội-Lào Cai sau 2 tháng khánh thành

Trong khi đó, theo Cục giao thông và đường bộ Road& Transport Authority of Dubai RTA, con đường tránh đi vào thành phố Dubai (bypass) dài 70 km khánh thành năm 2012 với 12 làn xe tổng chi phí xây dựng hết 1 tỷ dirham= 278 triệu đô la. Như vậy tính ra chi phí xây dựng 1km đường cao tốc 12 làn xe của họ chỉ hết 3,97 triệu đô la thôi (*) 



Dự án sân bay Long Thành  được khái toán 18 tỉ USD. Tuy mới chỉ là khái toán nhưng cho thấy đã quá cao so với quốc tế, cụ thể như: 

Sân bay Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ: 5,6 tỉ USD rộng 77 triệu mét vuông, tức gần 20.000 ha, lớn gấp 4 lần dự án sân bay Long Thành, có khả năng đón 150 triệu lượt hành khách mỗi năm được kỳ vọng sẽ là "sân bay lớn nhất thế giới". 

Sân bay Quốc tế Denver, bang Colorado, Hoa Kỳ: đã xây xong và đưa vào hoạt động từ năm 1995, tổng chi phí đầu tư là 4,8 tỉ USD (tương đương 7,45 tỉ USD ở thời điểm hiện nay). Sân bay này rộng 54 dặm vuông, tương đương 140 km vuông (gần 35.000 ha), lớn hơn 7 lần so với dự án sân bay Long Thành. Lượng khách đón hàng năm: 52,5 triệu.

Sân bay quốc tế Al Maktoum, Dubai, Các tiểu Vương quốc Ả rập:
 tổng chi phí 33 tỷ USD , diện tích 220 km vuông, tương đương 55.000 ha, lớn gấp 101 lần dự án sân bay Long Thành (5.000 ha) và lớn gấp 65 lần sân bay Tân Sơn Nhất (8.500 ha) có khả năng đón 160 triệu lượt hành khách và 12 triệu tấn hàng hóa hàng năm, nhưng tổng chi phí chỉ bằng 1,8 lần khái toán  của sân bay Long Thành.  bay Long Thành  (**)


Đó là chưa nói tình trạng chất lượng của hầu hết các công trình của VN bao giờ cũng xuống cấp nhanh, mới khánh thành đã phải xử lý "sự cố kỹ thuật". Dễ nhận thấy nhất là các dự án xây đường cao tốc, sân bay, bến cảng, đập thủy lợi, thủy điện và các công trình công cộng lớn nhỏ. Hầu hết các tuyến đường cao tốc ở VN đều bị tình trạng sụt lún ngay sau khi khánh thành; mặt đường thì mấp mô, hành lang an toàn sơ sài nên tốc độ chạy xe không thể đạt chuẩn cao tốc.


Vậy câu hỏi đặt ra là vì sao chi phí cho các dự án ở VN quá cao so với thế giới ? Câu trả lời chung nhất mà giới chức VN thường viện dẫn là "giá đền bù giải phóng mặt bằng", nhưng họ không nêu rõ lý do tại sao chi phí giải phóng mặt bằng cao như vậy. Thực ra sự "bí ẩn" này nằm ở khâu "cơ chế tham nhũng" thường rất tinh vi, có tổ chức hoặc được bảo kê của các cá nhân hoặc cơ quan nhà nước đầy quyền lực. Sự phản ứng của  người dân trong các vùng có dự án cho thấy điều này.


"Kết quả" của phong trào dự án nhìn thấy được qua sự biến dạng nhanh chóng trong bức tranh quang cảnh vùng ngoại vi Hà Nội, Sài Gòn và một vài tỉnh thành khiến nhiều người khen kẻ chê... Nhưng đi kèm với chúng là sự tàn phá khủng khiếp đối với đất trồng lúa  màu mỡ (điển hình là dự án Ecopark ngay cửa cửa ngõ của Thủ đô)và môi trường sinh thái nói chung đồng thời dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội không thể kể hết ra đây. Nếu xét về mục đích của đầu tư là để phát triển thì có thể nói VN đã và đang làm điều ngược lại, nguy hiểm nhất là biến đất nước thành một con nợ đầy rủi ro.

Vậy nên chăng đã đến lúc phải tạm ngừng các "dự án phát triển" để chờ cải cách hành chính và giải quyết vấn nạn tham nhũng, nếu không muốn vỡ nợ ?

Ghi chú:
(*) Thông tin do cựu đại sứ Nguyen Quan Khai cung cấp trên trang facebook cá nhân.
(**) Thông tin trên trang Anh basam tập họp từ các nguồn khác nhau.

Thứ Năm, ngày 16 tháng 10 năm 2014

Lạnh Tây, nóng Đông: Putin sợ ‘đứt tay’


- Xích lại gần với Trung Quốc là một trong số các giải pháp của Tổng thống Nga Vladimir Putin nhằm chống trả lại lệnh cấm vận của phương Tây. Tuy nhiên, việc này cũng đang làm đau đầu nhiều nhà lãnh đạo nước Nga.
Lạnh lùng với đồng tiền phương Tây
Ngày 13/10, Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã chứng kiến lễ ký kết 38 thỏa thuận, trong đó có một thỏa thuận về việc mở một hạn mức hoán đổi đồng NDT và đồng Ruble trị giá khoảng 24,5 tỷ USD nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư song phương, tránh phụ thuộc vào đồng USD.
Ngân hàng Trương ương Nga cho biết, thỏa thuận hoán đổi tiền tệ có hiệu lực trong 3 năm và có thể kéo dài tùy, thuộc vào hai bên.
Theo Bussiness Insider, thỏa thuận này cho phép hai nước sử dụng đồng tiền của nhau mà không phải mua trên các thị trường tiền tệ. Nó sẽ giúp Nga tăng cường quan hệ thương mại, đầu tư với Trung Quốc, cũng như đẩy mạnh hợp tác với châu Á nhằm giảm ảnh hưởng của các lệnh cấm vận của Mỹ và Liên minh châu Âu (EU).
Nga, Mỹ, EU, Vladimir-Putin, Ukraine, Crimea, Obama, xuống-nước, Trung-Quốc, kinh-tế, trừng-phạt, cấm-vận, nhập-khẩu, nông-nghiệp, châu-Âu, nguồn-vốn, tài-chính, ngân-hàng
Xích lại gần với Trung Quốc là một trong số các giải pháp của Tổng thống Nga Vladimir Putin nhằm chống trả lại lệnh cấm vận của phương Tây
Hàng loạt thỏa thuận, từ năng lượng đến tài chính, đã được ký kết trong chuyến thăm Nga kéo dài 3 ngày của Thủ tướng Lý Khắc Cường, trong khuôn khổ thăm châu Âu một tuần của nhà lãnh đạo Trung Quốc.
Nó như một minh chứng cho lời khẳng định của Tổng thống Nga Putin, rằng "Trung Quốc là đồng minh tự nhiên của Nga" và như Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev đánh giá "quan hệ giữa Nga và Trung Quốc như những đối tác chiến lược đang ở trình độ rất cao".
Có thể thấy, với những gì diễn ra trong chuyến thăm Nga của Thủ tướng Trung Quốc vừa qua, mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc đã lên cao hơn bao giờ hết, hướng tới "quan hệ đối tác chiến lược toàn diện" như lời phát biểu của ông Lý Khắc Cường.
Những thông tin trên RIA Novosti cũng cho thấy, Trung Quốc đang muốn thiết lập khu vực phát triển kinh tế chung giữa châu Âu và châu Á, trong đó Nga là một đối tác quan trọng.
Quan hệ thương mại giữa Nga và Trung Quốc tăng vọt gần đây, vượt qua cả quan hệ thương mại Nga - Đức và được dự báo còn tăng trưởng do các lệnh trừng phạt lẫn nhau giữa Nga và phương Tây.
Trong lĩnh vực đầu tư và vốn, Trung Quốc cũng là đối tượng số 1 của Nga. Trước đó, hồi tháng 5, Nga và Trung Quốc cũng đã ký hợp tác chiến lược với thỏa thuận cung cấp khí trị giá 400 tỷ USD trong vòng 30 năm. 
Nga, Mỹ, EU, Vladimir-Putin, Ukraine, Crimea, Obama, xuống-nước, Trung-Quốc, kinh-tế, trừng-phạt, cấm-vận, nhập-khẩu, nông-nghiệp, châu-Âu, nguồn-vốn, tài-chính, ngân-hàng
Hàng loạt thỏa thuận đã được ký kết trong chuyến thăm Nga kéo dài 3 ngày của Thủ tướng Lý Khắc Cường.
Không chỉ kinh tế, mối quan hệ Nga - Trung ngày càng sâu sắc trong cả lĩnh vực quân sự. Theo Bloomberg, Tổng thống Vladimir Putin có thể tiến tới đáp ứng một trong hai điều mà Trung Quốc mong muốn nhất hiện nay là: nắm bắt công nghệ vũ khí tiên tiến.
Giải bài toán "chơi dao"
Quan hệ Nga - Trung đang lên một tầm cao mới trong bối cảnh ông Putin muốn thoát khỏi sự phụ thuộc vào thương mại và đầu tư của phương Tây, trong khi Trung Quốc thì muốn có thêm nhiều năng lượng, vũ khí và cũng muốn vượt ra khỏi cái bóng quá lớn của nước Mỹ.
Với Trung Quốc, đẩy mạnh hợp tác với Nga có lẽ là cần thiết. Trung Quốc vừa soán ngôi vị của Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới tính theo phương pháp ngang giá sức mua (PPP). Quốc gia đông dân nhất thế giới này cũng sắp trở thành nhà nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới. Việc hợp tác mua dầu khí từ Nga có thể là lựa chọn số 1 trong bối cảnh vận tải dầu trên Biển Đông và vận chuyển khí qua Myanmar có nhiều bất cập.
Hợp tác với Nga còn giúp Trung Quốc thâm nhập vào thị trường rộng lớn này cũng như có cơ hội thâu tóm các DN trong lĩnh vực năng lượng và học hỏi được công nghệ vũ khí tiên tiến.
Ở chiều ngược lại, Nga cũng giảm thiểu được suy thoái kinh tế trước hàng loạt các lệnh cấm vận của Mỹ và EU. Nền kinh tế Nga cần tiền từ bán dầu khí và cần hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng trong nước. 
Nga, Mỹ, EU, Vladimir-Putin, Ukraine, Crimea, Obama, xuống-nước, Trung-Quốc, kinh-tế, trừng-phạt, cấm-vận, nhập-khẩu, nông-nghiệp, châu-Âu, nguồn-vốn, tài-chính, ngân-hàng
Việc xích lại gần với Trung Quốc cũng đang làm đau đầu nhiều nhà lãnh đạo nước Nga.
Tuy nhiên, điều khiến nhiều nhà phân tích Nga lo ngại là: Hợp tác đồng nghĩa với việc tăng sức mạnh cho Trung Quốc - nước láng giềng có nền kinh tế gấp 4 lần, có dân số gấp 10 lần Nga và có đường biên giới rất dài với Nga.
Một nhà phân tích chính trị độc lập tại Moscow trên Bloomberg cho rằng, đến thời điểm này, ông Putin đã quay mặt với Tây và hướng sang Đông. Trong khi đó, Trung Quốc đang tìm cách tối đa hóa lợi ích từ chính sách mới của Nga.
Chuyến viếng thăm Nga của ông Lý Khắc Cường cho thấy, Trung Quốc không phí thời gian để ngay lập tức tấn công vào thị trường nợ của Nga sau khi Mỹ và châu Âu đóng cánh cửa này đối với Kremlin.
Tầm quan trọng của Trung Quốc với Nga, trong bối cảnh hiện tại, theoBloomberg, là yếu tố có thể khiến ông Putin đáp ứng cả các yêu cầu về công nghệ vũ khí tiên tiến của Trung Quốc. Cũng theo nguồn tin này, Nga đang chuẩn bị ký các hợp đồng bán các hệ thống tên lửa S-400 và máy bay chiến đấu Su-35 cho cường quốc hạt nhân Trung Quốc vào quý I năm sau.
Sự hợp tác trên nhiều phương diện giữa Nga và Trung khiến không ít nước lo ngại nhưng mang lại lợi ích cho cả hai cường quốc. Nhưng, sự lớn mạnh về bất cứ phương diện nào của Trung Quốc cũng chính là điều khiến các nhà lãnh đạo Nga đau đầu. Mặc dù vậy, trong hoàn cảnh hiện nay, xích gần lại với Trung Quốc là lựa chọn tất yếu, không thể tránh của nước Nga.
Văn Minh

Thứ Tư, ngày 15 tháng 10 năm 2014

Vì khó mà bó tay?

Lời bình ngắn của chủ blog Bách Việt: Tác giả cuốn sách về Biển Đông, Bill Hayton  cho rằng Việt Nam không thể cắt đứt hoàn toàn quan hệ với Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền do một số lý do, trong đó có vị trí địa lý "cận kề".  Đúng vậy, nhưng chỉ đúng về mặt quan hệ hữu nghị ngoại giao thông thường...còn quan hệ như thế nào, mức độ và cường độ ra sao là chuyện thuộc quyền của VN. Xin hỏi tác giả, nếu vậy tại sao Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan cận kề TQ hơn nhiều lại có thể tồn tại độc lập và phát triển cao hơn TQ?  Dưới đây là nguyên văn bài trả lời phỏng vấn của tác giả Bill Hayton với đài BBC ngày 14/10/2014. 

 

Việt Nam 'ở thế khó xử với Trung Quốc'

  • 14 tháng 10 2014




Tác giả cuốn sách về Biển Đông cho rằng Việt Nam không thể cắt đứt hoàn toàn quan hệ với Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền. 
Trả lời phỏng vấn với BBC tiếng Việt trong buổi nói chuyện ra mắt sách 'South China Sea: the Struggle for Power in Asia' tại Trường SOAS, London chiều 13/10/2014, ông Bill Hayton cũng nói về khó khăn trong quá trình thu thập dữ liệu cho cuốn sách.
Bill Hayton: Khi tôi bắt tay việc viết cuốn sách này, tôi thực sự muốn biết làm thế nào nhà chức trách Trung Quốc đã vẽ đường chữ U tại Biển Đông và tôi tìm kiếm lời giải thích hợp l‎ý. Và tôi đi đến kết luận rằng thực ra đường chữ U là việc nhà chức trách Trung Quốc vào thập niên 1930 đã hiểu nhầm và diễn dịch sai bản đồ của Anh Quốc theo đó dẫn tới sự hiểu nhầm về sự liên hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Tức là có sự hiểu nhầm là Biển Nam Trung Hoa là một phần thuộc về Trung Quốc.
Tôi đã nói trong cuốn sách rằng thật là kỳ quặc khi nhà chức trách Trung Quốc coi điểm cực nam thuộc về chủ quyền của Trung Quốc là một bãi ngầm dưới mặt biển 22 mét và cách bờ biển Borneo khoảng 100 km. Và câu trả lời dường như rất có thể là kết quả của một lỗi dịch thuật.
BBC: Các dự kiện lịch sử đóng vai trò gì trong tranh chấp chủ quyền?
Vấn đề hiện nay là ở chỗ nhà chức trách Trung Quốc và người Trung Quốc tin rằng hoặc được dậy rằng Biển Nam Trung Hoa hay Biển Đông là thuộc về Trung Quốc về mặt lịch sử. Điều cần làm là nghiên cứu các dữ kiện lịch sử một cách trung lập để xem bên nào tuyên bố phần nào họ có chủ quyền. Tức là thay vì nói là chúng tôi sở hữu toàn bộ Tây Sa và Nam Sa hay Hoàng Sa và Trường Sa, các nước có thể nói rằng chúng tôi có thể chứng minh được rằng chúng tôi là bên đã có chủ quyền về một hòn đảo này hay đảo kia ở khu vực này hay khu vực kia và từ đó có thể bàn thảo với nhau.





BBC: Ông đánh giá sao về ý kiến cho rằng chính phủ Việt Nam không có lập trường đủ cứng rắn trong tranh chấp chủ quyền?
Việt Nam ở trong vị thế khó. Trung Quốc là láng giềng cận kề và là đối tác mậu dịch lớn nhất. Hai đảng cộng sản có những quan hệ có thể xem là khá tốt với nhau. Do đó sẽ là dại dột nếu Việt Nam cắt đứt hẳn liên hệ với Trung Quốc vì kinh tế của Việt Nam có thể kiệt quệ, thất nghiệp sẽ là vấn nạn lớn. Do đó giới lãnh đạo Việt Nam dường như tách tranh chấp chủ quyền ra thành một chuyện riêng biệt trong khi tiếp tục có những mối quan hệ khác.
Tuy nhiên phía Trung Quốc lại không hề tỏ ra có động thái nhượng bộ nào để phía Việt Nam có thể giải thích với người dân của họ là hai bên ít nhất quan tâm tới việc đàm phán. Trung Quốc từ chối nhượng bộ và làm tình hình tồi tệ hơn như trong vụ Bắc Kinh hạ đặt giàn khoan gần đây. Chính phủ Việt Nam ở thế khó vì người dân nói rằng cần phải cứng rắn hơn, tuy nhiên chính phủ có thể làm được gì? Vì nếu họ tiến hành một cuộc chiến thì mọi chuyện sẽ không dẫn đến một kết cục tốt.
BBC: Trong quá trình viết sách ông nhận được sự hợp tác ở mức nào từ nhà chức trách và giới học giả tại Việt Nam và Trung Quốc?
Tôi từng được Học viện Ngoại giao mời tới dự hội thảo về Biển Đông tại Việt Nam nhưng Bộ Công an Việt Nam không cấp visa cho tôi. Quý vị có thể đã biết là tôi không thể tới Việt Nam để nghiên cứu.
Tôi có tới Trung Quốc nhưng dữ liệu thu lượm được cũng khiêm tốn. Phần lớn việc nghiên cứu được thực hiện tại thư viện ở London và các nơi khác cùng với sự hỗ trợ đồng nghiệp tại Đài Loan và kho dữ liệu của Đài Loan.

Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này