Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, ngày 01 tháng 6 năm 2015

Các thực tế lịch sử và sự bịa đặt ở Biển Đông


The Observer 01/06/2015




Nguồn: Bill Hayton, “Fact, Fiction and the South China Sea”, Asia Sentinel, 25/05/2015.

Biên dịch: Phan Văn Song

Chỉ trong vài tuần nữa, các thẩm phán quốc tế sẽ bắt đầu xem xét tính hợp pháp của yêu sách ‘đường chữ U’ của Trung Quốc ở Biển Đông. Nơi sự việc diễn ra sẽ là Toà Trọng Tài Thường Trực tại The Hague và bước đầu tiên của tòa – trong thời gian nghị án vào tháng 7 – sẽ là xét xem liệu ngay cả toà [có quyền] xem xét vụ kiện này hay không.

Điều Trung Quốc hi vọng lớn nhất là các thẩm phán sẽ phán quyết chính họ không có thẩm quyền bởi vì nếu không, và vụ kiện của Philippines tiến tới, rất có khả năng Trung Quốc sẽ bị bẽ mặt rất lớn.

Philippines muốn Tòa phán quyết rằng, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), Trung Quốc chỉ có thể yêu sách chủ quyền và quyền đối với tài nguyên cách lãnh thổ đất liền một khoảng cách nhất định trong biển này. Nếu tòa đồng ý thì điều đó sẽ có tác dụng thu hẹp ‘đường chữ U’ to rộng đó thành một vài vòng tròn có đường kính không quá 24 hải lý (khoảng 50km).

Trung Quốc không chính thức tham gia vào vụ kiện, nhưng họ đã đưa ra các tranh luận gián tiếp, đặc biệt là qua ‘văn bản về lập trường’ mà họ công bố cuối tháng 12. Văn bản này lập luận rằng khi chưa có phán quyết của một tòa án khác cho tất cả các yêu sách lãnh thổ cạnh tranh đối với các đảo, đá và rạn san hô khác nhau thì tòa này không nên xét xử vụ kiện của Philippines. Đây là vấn đề mà các thẩm phán sẽ phải xem xét trước tiên.

Chiến lược của Trung Quốc trong ‘cuộc chiến pháp lý’ trên Biển Đông là tung ra các lập luận lịch sử để đánh tạt đi các lập luận dựa trên UNCLOS. Trung Quốc ngày càng có vẻ coi UNCLOS không phải là một phương tiện trung tính trong việc giải quyết các tranh chấp mà là một vũ khí phe phái do các nuớc khác nắm lấy để từ chối các quyền tự nhiên của Trung Quốc.

Nhưng có một vấn đề lớn đối với Trung Quốc trong việc sử dụng lập luận lịch sử. Hầu như họ không có bất kỳ bằng chứng nào.

Đây không phải là ấn tượng mà người đọc bình thường thu được khi đọc hầu hết các bài báo hoặc các báo cáo của các viện nghiên cứu chính sách (think-tank) viết về tranh chấp Biển Đông trong những năm gần đây. Đó là vì hầu như tất cả các bài báo và báo cáo này đều có căn cứ lịch sử dưa trên một số lượng rất nhỏ các bài viết và sách. Đáng lo ngại là việc kiểm tra chi tiết những công trình này gợi ra rằng họ sử dụng các căn cứ không đáng tin cậy để từ đó viết ra những chuyện lịch sử [đuợc cho là] đáng tin cậy.

Đây là một trở ngại đáng kể trong việc giải quyết tranh chấp vì việc Trung Quốc đọc nhầm các bằng chứng lịch sử là yếu tố gây bất ổn lớn nhất trong đợt căng thẳng hiện nay. Sau nhiều thập niên giáo dục sai, người dân và lãnh đạo Trung Quốc dường như tin rằng Trung Quốc là chủ sở hữu hợp lẽ tất cả các thực thể địa lý trong biển này- và có thể tất cả các vùng biển ở giữa. Quan điểm này đơn giản là không được các bằng chứng từ thế kỷ 20 hậu thuẫn.

Ai kiểm soát quá khứ sẽ kiểm soát tương lai

Vấn đề đối với khu vực này là việc giáo dục sai không chỉ giới hạn ở Trung Quốc. Bằng chứng không đáng tin cậy che phủ dòng quan điểm quốc tế về tranh chấp Biển Đông. Nó đang bẻ lệch các đánh giá về tranh chấp này ở cấp cao trong chính phủ – cả ở Đông Nam Á lẫn ở Hoa Kỳ. Tôi sẽ sử dụng ba tài liệu công bố gần đây để minh họa cho quan điểm của mình: hai bài ‘Bình Luận’ năm 2014 của Trường Nghiên Cứu Quốc Tế Rajaratnam ở Singapore do học giả Trung Quốc Li Dexia (Lý Đức Hà) và một người Singapore tên Tan Keng Ta viết[1], một bài thuyết trình năm 2015 của cựu Phó Đại sứ Mỹ tạiTrung Quốc Charles Freeman tại Đại học Brown[2] và một bài báo năm 2014 của Trung Tâm Phân Tích Hải Quân có trụ sở tại Hoa Kỳ.[3]

Điểm nổi bật về những công trình gần đây này – và chúng chỉ là các ví dụ của một lượng văn liệu lớn hơn nhiều – là chúng tin vào các tài liệu lịch sử công bố nhiều năm trước đây: một số lượng nhỏ các bài viết được công bố trong thập niên 1970, đáng chú ý là tài liệu của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park;[4] cuốn sách Contest for the South China Sea của Marwyn Samuels năm 1982;[5] cuốn sách China’s Ocean Frontier[6] của Greg Austin năm 1998 và hai bài báo của Jianmeng Shen [申建明 (Thân Kiến Minh)] công bố năm 1997[7] và 2002.[8]

Các tài liệu này đã tới chỗ thành ‘kiến thức phổ thông’ (conventional wisdom) về các tranh chấp [ở Biển Đông]. Google Scholar tính ra rằng tài liệu của Chiu và Park được 73 công trình khác trích dẫn, và sách của Samuels là 143. Những công trình có trích dẫn các tác giả này gồm một của Brian Murphy năm 1994[9] và những công trình của Jianming Shen năm 1997 và 2002 – rồi tới phiên chúng lại được trích dẫn tương ứng bởi 34 và 35 công trình khác và bởi Chi-kin Lo mà cuốn sách của ông lại được 111 công trình khác nữa trích dẫn.[10] Đối với hầu hết các diễn giải lịch sử, Lo dựa vào Samuels một cách rõ rệt, thực sự ca ngợi ông vì “xử lý tỉ mỉ các dữ liệu lịch sử” (p.16). Đô Đốc (về hưu) Michael McDevitt khi viết lời mở đầu cho bài viết của CNA, lưu ý rằng quyển Contest for the South China “ vẫn đứng rất vững cho tới khoảng 40 năm nữa.”

Những công trình này là những nỗ lực đầu tiên giảng giải lịch sử của các tranh chấp cho người xem nói Tiếng Anh. Chúng có một số đặc điểm chung:
Chúng được viết bởi các chuyên gia về luật quốc tế hay khoa học chính trị chứ không phải là nhà sử học về biển của khu vực này.
Chúng thường thiếu các tham khảo từ nguồn tài liệu gốc (primary source material)
Chúng có xu hướng dựa vào các nguồn trên báo chí Trung Quốc mà các nguồn này lại không đưa ra nguồn tham khảo nào từ các bằng chứng ban đầu hoặc từ các công trình có tham khảo các nguồn này
Chúng có xu hướng trích dẫn các bài báo nhiều năm sau đó như là bằng chứng có thật
Chúng thường thiếu thông tin bối cảnh lịch sử
Chúng được viết bởi tác giả có các quan hệ mạnh mẽ với Trung Quốc

Các công trình ban đầu về tranh chấp

Việc viết về các tranh chấp ở Biển Đông bằng tiếng Anh nổi lên như hậu quả trực tiếp của ‘Trận đánh ở quần đảo Hoàng Sa’ vào tháng 1 năm 1974, khi quân đội Trung Quốc đuổi quân đội Việt Nam Cộng Hòa (‘Nam Việt Nam’) ra khỏi nửa phía Tây của quần đảo này.

Các phân tích đầu tiên mang tính báo chí, trong đó có một bài của Cheng Huan, lúc đó là một sinh viên luật người Malaysia gốc Hoa ở London mà bây giờ là một khuôn mặt pháp lý cao cấp tại Hong Kong, trong ấn bản tháng sau đó của Far Eastern Economic Review (Tạp Chí Kinh Tế Viễn Đông).[11] Trong bài đó, ông phát biểu rằng, “yêu sách lịch sử của Trung Quốc [đối với quần đảo Hoàng Sa] rất vững chải về mặt tài liệu ghi chép (well documented) và đi ngược về quá khứ xa xưa rất nhiều năm, rằng sẽ gần như bất khả để bất kỳ nước nào khác đưa ra một phản yêu sách có ý nghĩa.” Lời thẩm định của một sinh viên còn non choẹt đã được chuẩn nhận trích dẫn trong cuốn sách ‘China’s Policy Towards Territorial Dispute’ của Chi-Kin Lo xuất bản năm 1989.[12]

Các công trình có tính học thuật đầu tiên xuất hiện năm sau đó. Chúng gồm một bài viết của Tao Cheng cho Tạp Chí Luật Quốc Tế Texas[13] và một bài khác của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park cho Ocean Development & International Law.[14] Năm sau, Viện Nghiên Cứu Châu Á tại Hamburg xuất bản một chuyên khảo của học giả Đức Dieter Heinzig có tựa là ‘Disputed islands in the South China Sea’ (Các đảo tranh chấp ở Biển Đông).[15] Đây là những bài viết mở đuờng nhưng nội dung – và do đó phân tích của chúng- còn xa mới có tính trung lập.

Bài của Cheng chủ yếu dựa vào nguồn của Trung Quốc với các thông tin bổ sung từ báo chí Mĩ. Các nguồn chính của Trung Quốc là các tạp chí thương mại hồi thập niên 1930, đáng chú ý là các số của tạp chí Wai Jiao Ping Lun [外交评论 (Ngoại Giao Bình Luận)] ở Thượng Hải năm 1933 và năm 1934 và Xin Ya Xiya yue kan [新亚细亚月刊 (Tân Á Tế Á Nguyệt San: Nguyệt san Châu Á mới)] năm 1935. Các nguồn này được bổ sung bằng các tài liệu từ tạp chí tin tức hàng thángMing Pao [明报 (Minh Báo)] ở Hong Kong năm 1973 và năm 1974. Các báo khác được trích dẫn bao gồm Kuo Wen Chou Pao [国文周报 (Quốc Văn Chu Báo: Tuần Báo Quốc Văn)], xuất bản tại Thượng Hải từ năm 1924 đến 1937, Renmin Ribao [Nhân Dân Nhật Báo] và New York Times. Cheng không tham khảo bất kỳ nguồn nào của Pháp, Việt Nam hoặc Philippines, ngoại trừ một bài báo từ La Geographie (Địa Lí) năm 1933 đã được dịch và in lại trong Wai Jiao Ping Lun.

Bài báo của Hungdah Chiu và Choon-Ho Park cũng dựa trên các nguồn tương tự. Trong những phần cốt lõi, bài viết trích dẫn bằng chứng dựa trên các bài báo được xuất bản vào năm 1933 trong Wai Jiao Ping Lun[16] và Wai Jiao Yue Bao [外交月报 (Ngoại Giao Nguyệt Báo)][17], vàFan-chih Yueh-k’an [方志月刊 (Phuơng Chí Nguyệt San)] năm 1934[18] cũng như Kuo-wen Chou Pao (Quốc Văn Chu Báo) năm 1933 và Wai-Chiao-pu kung-pao [外教部公宝(Ngoại Giao Bộ Công Báo: Công báo Bộ Ngoại Giao)] của chính phủ Trung Quốc.[19] Nó bổ sung thông tin này với các tài liệu thu thập được từ quyển Nan-hai chu-tao ti-li chih lūeh [南海诸岛地理志略 (Nam Hải chư đảo địa lý chí lược)] của Cheng Tzu-Yueh [郑资约 (Trịnh Tư Ước)] xuất bản năm 1948 ở Thượng Hải,[20] và các tuyên bố của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc (Trung Hoa Dân Quốc) từ năm 1956[21] đến 1974.[22]

Chiu và Park có sử dụng một số tài liệu tham khảo của Việt Nam, đặc biệt là 8 thông cáo báo chí hay các bảng kê sự kiện do Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Washington đưa ra. Họ cũng tham khảo một số “tài liệu chưa được công bố thuộc sở hữu của hai tác giả.” Tuy nhiên, phần lớn nguồn của họ là từ báo chí Trung Quốc.

Viết một năm sau đó, Dieter Heinzig dựa vào, đặc biệt là các ấn bản của hai tạp chí Hong KongCh’i-shih nien-tai [七十年代 (Thất thập niên đại)] và Ming Pao [明报 (Minh Báo)][23] xuất bản lần lượt vào tháng 3 và tháng 5 năm 1974.

Điều quan trọng là tất cả những bài viết nền tảng này đã được sử dụng làm tài liệu tham khảo cơ bản cho các bài báo Trung Quốc xuất hiện trên truyền thông vào những thời điểm khi thảo luận về Biển Đông đã bị chính trị hóa cao độ. Năm 1933 là năm mà Pháp chính thức sáp nhập các thực thể địa lý thuộc quần đảo Trường Sa – kích động sự giận dữ lan rộng ở Trung Quốc, 1956 là năm mà doanh nhân Tomas Cloma của Philippines tuyên bố hầu hết quần đảo Trường Sa là vùng đất tự do “Freedomland” của chính mình – kích động các phản yêu sách của Trung Hoa Dân Quốc, Trung Quốc và Việt Nam Cộng Hòa; và 1974 là năm có trận đánh Hoàng Sa.

Các bài báo được công bố trong ba thời kỳ này không thể được xem là các nguồn trung lập và vô tư về bằng chứng thực tế mà cần phải được xem là những tài liệu phe phái ủng hộ các quan điểm quốc gia cụ thể. Điều này không có ý nói rằng các tài liệu đó sẽ tự động không chính xác mà cần phải thận trọng kiểm chứng những điều chúng khẳng định với các nguồn tài liệu gốc. Đây không phải là điều mà các tác giả đã làm.

Khuôn mẫu do Cheng, Chiu và Park và Heinzig thiết lập sau đó đã được lặp lại trong cuốn sáchContest for the South China Sea của Marwyn Samuels.[24] Chính Samuels tự thừa nhận sự thiên vị Trung Quốc trong các nguồn của ông trong Lời Mở Đầu của cuốn sách, khi ông nói “đây không phải là một nghiên cứu chủ yếu về lịch sử trên biển, chính sách đại dương hoặc lợi ích của Việt Nam hay Philippines ở Biển Đông. Thay vào đó, ngay cả khi với các yêu sách và phản yêu sách khác nhau được bàn luận khá dài, mối quan tâm cuối cùng ở đây là về tính chất thay đổi trong chính sách đại dương của Trung Quốc.” Kết hợp các vấn đề lại, Samuels thừa nhận rằng nghiên cứu Châu Á của ông chủ yếu trong kho lưu trữ của Đài Loan. Tuy nhiên, các hồ sơ chính yếu liên quan đến hành động của Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông trong đầu thế kỷ 20 chỉ được giải mật năm 2008/9, sau khi công trình của ông được công bố khá lâu.[25]

Có một sự bùng nổ về việc viết lịch sử vào cuối thập niên 1990. Nhà địa lý Daniel Dzurek, cựu nhân viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ sau trở thành nhà tư vấn trong lĩnh vực dầu khí đã viết một bài báo cho Đơn vị Nghiên cứu các Ranh giới Quốc tế của Đại học Durham vào năm 1996 và cuốn sách của một nhà phân tích Úc Greg Austin xuất bản vào năm 1998. Phần lịch sử của Austin tham khảo sách của Samuels, các bài viết của Chiu và Park, tài liệu có tên ‘Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa’ do Bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố tháng 1 năm 1980[26] và một bài viết của Lin Jinzhi (Lâm Kim Chi) trên tờ Nhân Dân.[27] Cuốn sách của Dzurek cũng tương tự.

Người đóng góp quan trọng kế tiếp cho cách tường thuật này là một giáo sư luật Mỹ gốc Hoa, Jianming Shen thuộc Trường Luật Đại học St. John ở New York. Năm 1997, ông công bố một bài viết then chốt trong Hastings International and Comparative Law Review. Giống như Tạp Chí Luật quốc tế Texas, Tạp Chí này là một ấn phẩm do sinh viên biên tập. Hầu như không cần phải nói rằng ban biên tập gồm các sinh viên khó có thể là cơ quan tốt nhất để giám sát các công trình về lịch sử biển Châu Á. Tiếp sau bài viết này, Shen có một bài thứ hai trong một tạp chí có uy tín hơn, The Chinese Journal of International Law – mặc dù trong nhiều mục nó chỉ đơn giản là tham khảo bài viết thứ nhất.

Hai bài viết của Shen đặc biệt có ảnh hưởng – chẳng hạn bài của CNA 2014 dẫn ít nhất là 170 lần hai bài này. Tuy nhiên, khi kiểm tra lại nguồn thì thấy rõ hai bài này cũng đáng nghi như các bài có trước. Các mục về lịch sử nhằm cung cấp các bằng chứng cho bài năm 1997 của ông dựa phần lớn vào hai nguồn. Một là một cuốn sách của Duanmu Zheng [端木正 (Đoan Mộc Chính)] có tên Guoji Fa [Quốc Tế Pháp (Luật quốc tế)] do nhà xuất bản Đại Học Bắc Kinh xuất bản năm 1989 (đuợc tham chiếu ít nhất 18 lần).[28] Năm sau Duanmu chính thức trở thành quan chức pháp luật đứng thứ hai ở Trung Quốc – Phó Chánh Án Toà án Nhân dân Tối cao của Trung Quốc – và sau đó là một trong những người dự thảo Luật Cơ bản của Hong Kong.[29] Nói cách khác, ông là một quan chức cấp cao của nhà nước Trung Quốc. Nguồn sử liệu chính khác của Shen là một tập hợp các bài từ một hội nghị chuyên đề về các đảo ở Biển Đông do Viện Chiến lược Phát triển Biển, một bộ phận của Cục Hải Dương Quốc Gia Trung Quốc, tổ chức năm 1992 (đuợc tham chiếu dẫn ít nhất 11 lần). Có vẻ còn hơn là trớ trêu rằng tài liệu do Cục Quản Lý Hải dương Quốc Gia làm ra và tiếp đó được các cơ quan pháp lý của Trung Quốc xào nấu thông qua các tác phẩm của giáo sư Shen và của Trung Tâm Phân Tích Hải Quân lúc đó mà bây giờ lại trở thành một thành phần trong hiểu biết của Lầu Năm Góc về lịch sử Biển Đông.

Không ai trong số các tác giả được nói tới cho đến giờ là chuyên gia về lịch sử biển ở Biển Đông mà là các nhà khoa học chính trị (Cheng và Samuels), luật sư (Chiu và Park và Shen) hoặc chuyên gia quan hệ quốc tế (Heinzig và Austin). Như một quy luật, các công trình của họ không kiểm tra tính toàn vẹn của các lời văn mà họ trích dẫn, và họ cũng không bàn luận về bối cảnh mà chúng được tạo ra. Đặc biệt Cheng cùng với Chiu và Park lại đưa vào các khái niệm lỗi thời – chẳng hạn như ‘đất nước’ (country) để mô tả quan hệ tiền hiện đại giữa các thực thể chính trị xung quanh Biển Đông – cho những giai đoạn mà các quan hệ chính trị rất khác biệt với các quan hệ đang có hiện nay.

Cũng đáng chú ý là Cheng, Chiu và Shen đều là người gốc Hoa. Cheng và Shen đều tốt nghiệp LLB (Cử Nhân Luật) tại Đại học Bắc Kinh. Chiu tốt nghiệp Đại học Quốc gia Đài Loan. Dù điều này tất nhiên không tự động làm cho họ thành thiên vị, nhưng sẽ hợp lý để cho rằng họ quen thuộc với các tài liệu của Trung Quốc và các quan điểm của Trung Quốc nhiều hơn. Cả Samuels lẫn Heinzig đều là những học giả về Trung Quốc.

Bằng chứng có lổ hổng

Hầu như không đáng ngạc nhiên rằng những tài liệu bằng tiếng Anh đầu tiên về tranh chấp [Biển Đông], được viết như thể chúng do các tác giả Trung Quốc viết và dựa trên các nguồn của Trung Quốc, ủng hộ lập luận của Trung Quốc. Cheng đánh giá (p. 277) rằng “có lẽ an toàn để nói rằng vị thế của Trung Quốc trong tranh chấp các đảo ở Biển Đông là một ‘yêu sách vượt trội hơn cả’.” Chiu và Park (p.20) kết luận rằng “Trung Quốc có yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Spratlies [nguyên văn]) mạnh mẽ hơn Việt Nam.” Có thể thấy rõ quan điểm của Shen qua tựa hai bài báo của ông ta: ‘Các quy tắc của luật quốc tế và bằng chứng lịch sử hậu thuẫn quyền sở hữu của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông’ và ‘Chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông.’

Những lời phán này vẫn còn có ảnh hưởng tới ngày nay: chẳng hạn chúng đã được các bài viết của Li và Tan năm 2014 trích dẫn. Tuy nhiên, khi xem xét cặn kẽ hơn các bằng chứng mà họ dựa vào thì sẽ thấy chúng sai lầm trầm trọng. Những bài viết vào năm 1933, 1956 và 1974 không nên được coi là bằng chứng trung lập mà là các bài đọc có tính phe phái về lịch sử tranh chấp.

Bài viết này không có chỗ để nêu lên tất cả những khẳng định mà các tác giả đã đưa ra về các sự kiện trước thế kỷ 19. Tóm lại, các điều Cheng, Chiu và Park, Samuels và Shen đưa ra đều có cùng giả định chung: đó là Trung Quốc luôn luôn chiếm ưu thế hải quân, thương mại và khả năng đánh cá ở Biển Đông. Chẳng hạn như Cheng đã nêu như thế này, “Nó là một phần quan trọng của tuyến đường biển từ Châu Âu đến Phương Đông kể từ thế kỷ thứ 16, là nơi trú ẩn cho ngư dân Đảo Hải Nam, và là cửa ngõ cho các thương gia Trung Quốc từ miền Nam Trung Quốc đến Đông Nam Á kể thời xa xưa” (p.266).

Lịch sử dựa vào thực tiễn Biển Đông nhiều hơn gợi cho thấy tình hình phức tạp hơn nhiều. Các công trình của các nhà sử học Leonard Blussé, Derek Heng, Pierre-Yves Manguin, Roderich Ptak, Angela Schottenhammer, Li Tana, Nicholas Tarling và Geoff Wade đã cho thấy việc sử dụng biển trong thời tiền hiện đại đa phương hơn rất nhiều. Tàu thuyền và các thương nhân Trung Quốc hầu như không có vai trò trong giao thương đường biển cho mãi đến thế kỷ thứ 10 và thậm chí sau đó cũng chưa bao giờ chiếm ưu thế mà sử dụng biển chung với người Malaysia, Ấn Độ, Ả Rập và Châu Âu. Nghiên cứu của François-Xavier Bonnet,[30] Ulises Granados[31] và Stein Tønnesson[32] cho thấy mô thức tương tự đã kéo dài tới thế kỷ 20 như thế nào.

Nhiều tài liệu tiết lộ hồi đầu thế kỷ 20 cho thấy rằng nhà nước Trung Quốc gặp khó khăn rất lớn trong việc kiểm soát ngay cả bờ biển của chính mình, và hoàn toàn không có khả năng triển khai thẩm quyền tới các đảo cách xa hàng trăm cây số ngoài khơi. Ví dụ, hai bài báo trên The Times ở London tháng 1 năm 1908 mô tả sự bất lực của chính quyền Trung Quốc trong việc kiểm soát ‘cướp biển’ ở sông Tây Giang – trong nội địa ở Quảng Châu.[33] Một bài báo trên tờ The Examiner của Australia năm 1909 cho chúng ta biết rằng người nước ngoài (“hai người Đức, một người Nhật, và một số người Malaysia”) đã bắt đầu các hoạt động khai mỏ trên đảo Hải Nam mà không có cơ quan chức năng nào phát hiện cho đến mãi sau này.[34]

Điều mà các tài liệu này bộc lộ là một Biển Đông cho đến giữa thế kỷ 20 cơ bản vẫn không ai cai quản trừ các can thiệp khi cần của các cường quốc nước ngoài để chống cướp biển. Chỉ trong năm 1909, sau vụ tranh cãi xung quanh việc nhà khai thác phân chim Nhật Nishizawa Yoshiji chiếm đảo Pratas [Trung Quốc gọi là Đông Sa] thì nhà chức trách Trung Quốc mới trở nên quan tâm đến các đảo ngoài khơi.[35]

Việc phản đối các cuộc khảo sát của Đức

Tuy nhiên, Samuels (p. 52) cho rằng có thể xem Trung Quốc đã ngầm yêu sách quần đảo Trường Sa từ năm 1883 khi (theo trình bày của ông) chính phủ nhà Thanh chính thức phản đối đoàn khảo sát (có nhà nước bảo trợ) của Đức tới quần đảo Trường Sa. Khẳng định này lấy nguồn từ số tháng 5 năm 1974 của tạp chí tháng Ming Pao của Hong Kong mà không có bằng chứng bổ trợ nào khác. Chiu và Park (trong chú thích 47) quy nó về một bài báo trong Wai Jiao Yue Bao năm 1933, tức viết ra sau sự kiện đang nghi vấn này những 50 năm,[36] Heinzig cũng trích dẫn cùng số Ming Pao mà Samuels dựa vào để nói rằng đoàn khảo sát Đức năm 1883 thực sự đã rút đi sau khi có phản đối của Trung Quốc.

Điều khẳng định này có vẻ rất khó xảy ra bởi vì các nhà khảo sát Đức đã lập bản đồ quần đảo Hoàng Sa (không phải Trường Sa) từ năm 1881 đến năm 1883, hoàn tất công việc và sau đó đã xuất bản một hải đồ. Ấn bản tiếng Pháp của hải đồ đó được xuất bản năm 1885.[37]

Công ước Pháp-Thanh [Sino-Tonkin] 1887

Samuels lập luận rằng công ước Pháp – Thanh 1887 do chính phủ Pháp đàm phán, trên danh nghĩa là thay mặt cho cho Bắc Kỳ [Tonkin], cho ra một thỏa thuận quốc tế phân các đảo này [Hoàng Sa và Trường Sa] cho Trung Quốc (p. 52). Điều 3 của Công ước quả thực có phân các đảo phía Đông kinh tuyến Paris 105° 43′ cho Trung Quốc. Nhưng Samuels và các tác giả khác không để ý rằng Công Ước này áp dụng cho Bắc Bộ – khu vực phía Bắc của vùng đất bây giờ là Việt Nam và do đó chỉ có thể liên quan đến các đảo trong Vịnh Bắc Bộ. Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm lệch xa về phía Nam trong khu vực mà lúc đó là lãnh địa của An Nam (Trung Kỳ) và Nam Kì không thuộc phạm vi của Công Ước.

Bí ẩn của chuyến đi năm 1902

Ngoài ra còn xuất hiện một số nhầm lẫn về thời gian của chuyến đi đầu tiên của các quan chức Trung Quốc tới quần đảo Hoàng Sa. Samuels (p. 53), tin vào của bài viết trên Ming Pao năm 1974, cho chuyến đi đó là vào năm 1902 với chuyến đi thứ hai vào năm 1908. Austin và Dzurek viết theo Samuels trong sự việc này. Li và Tan (2014) cũng khẳng định là năm 1902, cùng với một chuyến đi riêng biệt khác vào năm 1907. Cheng cho nó là vào năm 1907, dựa trên một số tài liệu tham khảo năm 1933[38] như Chiu và Park đã làm, hai tác giả này dẫn một ấn bản năm 1933 của Kuo-wen chou -pao.[39] Tuy nhiên, trái ngược với các tường thuật này, được viết sau cái cho là các sự kiện mà họ định mô tả tới 26 và 72 năm, việc khảo sát báo chí cùng thời đó cho thấy khá rõ rằng các chuyến đi diễn ra vào năm 1909.

Có lý do chính đáng cho sự nhầm lẫn về chuyến đi năm 1902 này. Vào tháng 6 năm 1937, trưởng khu hành chính số 9 của Trung Quốc, Huang Qiang, đã được phái đến quần đảo Hoàng Sa thực hiện một nhiệm vụ bí mật – một phần là để kiểm tra xem có hoạt động của người Nhật trên các đảo hay không.

Nhưng ông cũng có một nhiệm vụ khác – mà một phụ lục bí mật kèm báo cáo của ông cho thấy rõ. Một đoạn trích của phụ lục này đã được Ủy ban Địa Danh Tỉnh Quảng Đông in lại vào năm 1987.[40] Tàu của ông chở theo 30 cột mốc (marker) bằng đá – một số ghi năm 1902, một số ghi năm 1912 và một số khác ghi năm 1921. Trên Cồn Bắc, họ chôn 2 cột ghi năm 1902 và 4 cột ghi năm 1912; trên Đảo Linh Côn (Lincoln), toán công tác chôn 1 cột ghi năm 1902, 1 cột ghi năm 1912 và 1 cột ghi năm 1921 và trên đảo Phú Lâm, 2 cột ghi năm 1921. Cuối cùng, trên Đảo Đá (Rocky), họ chôn 1 cột mốc duy nhất ghi năm 1912.

Các cột mốc này bị quên lãng cho mãi đến năm 1974 khi mà, sau trận đánh Hoàng Sa, chúng được tìm thấy và ‘khám phá’ này được làm ầm ĩ trên báo chí Hồng Kông – như Ming Pao. Chuyến đi năm 1902 không hề tồn tại này sau đó lại đi vào sử sách. Chỉ tới bây giờ nó mới bị nhà địa lý học người Pháp làm việc ở Manila Francois-Xavier Bonnet vạch trần.[41]

Tên các đảo

Trong bài viết năm 1997, Shen khẳng định Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ‘thẩm tra lại tên các đảo ở biển Nam Trung Quốc’ năm 1932. Trên thực tế ủy ban chính phủ đó chỉ đơn giản dịch hay phiên âm tên Tiếng Anh hoặc tên quốc tế hiện có. Kết quả là một số trong những cái tên tiếng Trung tiếp tục vinh danh các nhà khảo sát Anh vốn lập bản đồ các thực thể địa lý này lần đầu tiên. Trong quần đảo Hoàng Sa có Ling yang Jiao [Linh Dương Tiêu] – dịch từ Antelope Reef (Đá Hải Sâm) – vốn được đặt tên theo tàu khảo sát Antelope của Anh. Jin Yin Dao [Kim Ngân Đảo] – Money Island (Đảo Quang Ảnh) – không phải được đặt tên theo tiền và bạc – mà theo tên tổng giám sát William Taylor Money của Bombay Marine – đoàn tàu của Công ti Đông Ấn.

Phản đối ngoại giao năm 1933?

Một lập luận vốn là chìa khóa cho yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa là việc khẳng định thường được lặp đi lặp lại rằng Trung Hoa Dân Quốc đã chính thức phản đối Chính Phủ Pháp sau khi nước này chính thức sáp nhập một số thể địa lý trong quần đảo Trường Sa vào ngày 26 tháng 7 năm 1933. Điều chắc chắn đúng là sự sáp nhập gây kinh ngạc trong chính phủ và nỗi tức giận dân tộc chủ nghĩa trong công chúng. Tuy nhiên, có chăng một phản đối chinh thức đã được đưa ra?

Tao Cheng, trong bài báo năm 1975, dẫn một bài viết trong Xin Ya Ya Xi Yue Kan [Hsin-ya-hsi-ya Yueh kan (Tân Á Tế Á Nguyệt San)], ra hai năm sau đó, năm 1935.[42] Chiu và Park nêu trong một chú thích rằng “có bằng chứng rằng Trung Quốc cũng phản đối.” Họ tham khảo bài viết của Cho Min trong Wai-Chiao Yueh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo],[43] và một cuốn sách Nan-hai-chu tao ti-li chih- lūeh [Nam Hải chư đảo địa lí chí lược] năm 1948 của Cheng Tzu-Yueh.[44]

Tuy nhiên, họ thừa nhận rằng “Ngày Trung Quốc đưa ra phản đối không có nêu trong cuốn sách của Cheng, và cũng không được nói tới trong ‘Bản ghi nhớ về bốn quần đảo lớn của nước Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông’ do Bộ Ngoại Giao Trung Hoa Dân Quốc công bố vào tháng 2 năm 1974. Xem Lien-ho-pao [联合报 (Liên Hiệp Báo)], ấn bản nước ngoài, 25 tháng 2 năm 1974, p. 3.”

Điều khẳng định này xuất hiện trong bài thuyết trình của Đại Sứ Freeman và trong bài của CNA – bài này trích dẫn Shen. Trong bài báo năm 1997, Shen trích dẫn hai nguồn: Cheng, và Chiu và Park – nhưng như chúng ta đã thấy – các tác giả này không nêu ra bất kỳ tài liệu tham khảo nào cho khẳng định của mình. Trong bài báo năm 2002, Shen dẫn các bài viết của hội nghị chuyên đề của Cục Hải Dương Quốc Gia.[45] Những bài viết này không tìm thấy bên ngoài Trung Quốc, nhưng có bằng chứng tốt rằng tất cả các công trình này đều chỉ đơn giản là sai.

Francois-Xavier Bonnet đã tìm được hồ sơ của Mỹ cho thấy rằng ngay sau công bố của Pháp chính phủ Trung Quốc đã yêu cầu viên lãnh sự ở Manila, ông Kuan-ling Kwong đến hỏi chính quyền thực dân Mỹ về bản đồ có vẽ vị trí của các đảo đó. Chỉ sau đó chính phủ ở Nam Kinh mới hiểu được rằng những đảo này không thuộc quần đảo Hoàng Sa và sau đó đã quyết định không đưa ra bất kỳ phản đối chính thức nào.[46]

Theo Bonnet, nguyên do của việc này có thể thấy rõ từ biên bản của cuộc họp của Hội đồng quân sự Trung Hoa Dân Quốc vào ngày 1 tháng 9 năm 1933, “Tất cả các nhà địa lý chuyên nghiệp của chúng ta nói rằng Đảo Tri Tôn [thuộc Hoàng Sa] là đảo cực nam của lãnh thổ của chúng ta.”[47]Trung Hoa Dân Quốc quyết định rằng họ không có yêu sách trong quần đảo Trường Sa vào thời điểm đó và do đó không có gì để phản đối.

Nghiên cứu của Chris Chung, một nghiên cứu sinh người Canada, đã phát hiện ra rằng cho tới năm 1946, các hồ sơ của Trung Hoa Dân Quốc đã dẫn chứng việc Trung Quốc phản đối chính thức vào năm 1933 như thể nó là có thật. Điều này sau đó đã trở thành cách biện minh của Trung Quốc cho việc ‘đòi lại’ những đảo này từ tay Nhật Bản sau Thế Chiến II.[48]

Tóm lại, những gì có vẻ như đã xảy ra là hơn 13 năm sau khi Pháp sáp nhập các đảo, một hiểu biết khác biệt về những gì đã xảy ra vào năm 1933 đã hình thành vững chắc trong giới cầm quyền Trung Hoa Dân Quốc. Theo tôi đoán, các quan chức Trung Quốc nhầm lẫn một phản kháng có thật năm 1932 về hoạt động của Pháp ở quần đảo Hoàng Sa với một phản kháng năm 1933 không hề tồn tại về quần đảo Trường Sa.

Các cuộc khảo sát trong thập niên 1930

Trong bài báo năm 2002, Shen cho rằng Trung Hoa Dân Quốc, “đã tổ chức ba đợt khảo sát quy mô lớn cùng các hoạt động đặt tên lại tương ứng vào năm 1932, 1935 và 1947” (p.107) nhưng không có công việc khảo sát nào đã được thực hiện ở quần đảo Trường Sa mà chỉ là việc sao chép lại bản đồ quốc tế. Điều này có vẻ là lý do tại sao Trung Hoa Dân Quốc đã dịch sai tên của James Shoal [Bãi Ngầm James] – ban đầu gọi nó là Zengmu Tan [曾母滩 Tăng Mẫu Than)]. Zeng-mu chỉ đơn giản là phiên âm của từ James. Tan [滩 (than)] có nghĩa là bãi cát, trong khi thực tế thì ‘shoal’ là bãi ngầm. Qua việc dịch sai đơn giản này một mảnh đáy biển đã trở thành một đảo và được coi là lãnh thổ cực nam của Trung Quốc cho đến tận hôm nay – dù nó không tồn tại! Những cái tên đó đã được Trung Hoa Dân Quốc sửa đổi lại năm 1947 (lúc đó Zengmu Tan trở thànhZengmu Ansha – [暗沙 (ám sa: rạn san hô ngầm)]) và Trung Quốc chỉnh lại một lần nữa năm 1983.[49]

Tuyên bố Cairo

Shen (2002 p. 139), và Li và Tan (2014 ) lập luận theo đúng Bộ Ngoại giao Trung Quốc rằng theo Tuyên bố Cairo 1943, các đồng minh thời chiến đã trao các đảo ở Biển Đông cho Trung Quốc. Bài của CNA bàn luận về khẳng định này và rạch ròi bác bỏ nó trên cơ sở rằng,


Tuyên bố Cairo, như được củng cố bởi Tuyên Ngôn Potsdam, chỉ quy định rằng Trung Quốc sẽ thu hồi lại Mãn Châu, Formosa [Đài Loan], và Pescadores [Quần đảo Bành Hồ] sau chiến tranh. Câu tiếp theo chỉ đơn giản nói rằng Nhật Bản sẽ bị trục xuất khỏi các ‘vùng lãnh thổ khác’ mà họ đã chiếm bằng bạo lực, nhưng không chỉ ra rằng những ‘vùng lãnh thổ khác’ đó sẽ được trả lại cho Trung Quốc. Dù không được nêu cụ thể, kết luận hợp lý duy nhất là những ‘vùng lãnh thổ khác’ bao gồm cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, vốn đã bị đoạt lấy bằng bạo lực từ tay Pháp chứ không phải từ tay Trung Quốc. (p. 97)

Tuy nhiên, Freeman (2015) lập luận rằng vì nhà chức trách Nhật Bản sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào tỉnh Đài Loan nên Tuyên bố Cairo trả chúng cùng với phần còn lại của ‘Tỉnh Đài Loan’ về cho Trung Quốc. Nhưng Tuyên bố không đề cập đến từ ‘Đài Loan.’ Nó nói về Formosa và Pescadores. Kết luận hợp lý là đồng minh chỉ đồng ý rằng hai quần đảo cụ thể này [Formosa và Pescadores] sẽ được trả lại cho Trung Quốc.

Nhật Bản đầu hàng ở quần đảo Hoàng Sa

Cả bài của CNA lẫn bài thuyết trình của Đại Sứ Freeman đều chuyển tải khẳng định rằng quân đội Trung Quốc tiếp nhận sự đầu hàng của các đơn vị của Nhật Bản trú đóng tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào cuối Thế Chiến II. Freeman lập luận rằng Hải Quân Mỹ thực sự đã chở lực lượng Trung Hoa tới hai quần đảo đó cho mục đích này. Trong trao đổi riêng với tác giả, ông đã không thể cung cấp bất kỳ bằng chứng bổ trợ nào cho khẳng định đó.

Dựa trên những bằng chứng từ kho lưu trữ của quân đội Mỹ và Úc, khẳng định đó khó có vẻ là sự thật. Trong chiến tranh, Nhật Bản đã có các căn cứ quân sự trên Đảo Hoàng Sa (Pattle) và Phú Lâm (Woody) thuộc quần đảo Hoàng Sa và Đảo Ba Bình (Itu-Aba) thuộc quần đảo Trường Sa. Đảo Phú Lâm bị tàu ngầm USS Pargo pháo kích ngày 6 tháng 2 năm 1945[50] và ngày 8 tháng 3 máy bay Mỹ ném bom đảo này cùng với Đảo Hoàng Sa.[51] Khi tàu ngầm USS Cabrilla ghé Đảo Phú Lâm vào ngày 2 tháng 7, cờ tam tài [ba màu] của Pháp còn đang treo, nhưng lúc đó cũng có với một lá cờ trắng [mặt trời] ở trên nó.[52]

Ba Bình đã bị máy bay Mỹ ném bom xăng ngày 1 tháng 5 năm 1945. Sáu tháng sau đó, Hải Quân Mỹ đã phái một toán trinh sát đến Ba Bình. Toán này đổ bộ lên đảo ngày 20 tháng 11 năm 1945 và nhận thấy đảo không người – người Nhật đã bỏ đi.

Mãi cho đến hơn một năm sau đó – tháng 12 năm 1946 mới có một phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc dùng tàu chiến cũ của Mỹ (vừa được chuyển cho Hải Quân Trung Hoa Dân Quốc) mới có thể đi tới được đảo này. (Hai tháng trước đó người Pháp đã đến và khẳng định lại chủ quyền đảo này nhưng điều này hiếm khi được đề cập trong các nguồn Trung Quốc.) Tên tiếng Trung của Ba Bình là Taiping Dao (Thái Bình Đảo), được đặt theo tên tàu chiến chở phái đoàn này. Tàu Taiping trước đây là tàu USS Decker. Điều trớ trêu là nếu như Hoa kỳ không cung cấp những tàu chiến đó thì Trung Quốc sẽ không có yêu sách nào trong quần đảo Trường Sa hiện nay.

Kết luận

Việc xem xét lại các bằng chứng kiểm chứng được cho thấy một lịch sử về các đảo ở Biển Đông khác biệt với lịch sử có trong hầu hết các tài liệu tham khảo thường được sử dụng. Nhà nước Trung Quốc chỉ bắt đầu quan tâm tới các đảo này từ thế kỷ 20. Chưa có bằng chứng nào về việc có viên chức nhà nước Trung Quốc đến quần đảo Hoàng Sa trước ngày 6 tháng 6 năm 1909 đã được đưa ra. Chỉ trong năm 1933 sự chú ý của quốc gia mới chuyển sang quần đảo Trường Sa – và tại thời điểm đó Trung Hoa Dân Quốc đã quyết định không cố yêu sách quần đảo này. Sự chú ý đã được hồi sinh ngay lập tức sau Thế Chiến II, dựa trên những hiểu lầm về những gì xảy ra vào năm 1933 và lần đầu tiên trong lịch sử một quan chức Trung Quốc đặt chân lên quần đảo Trường Sa vào ngày 12 tháng 12 năm 1946.

Năm 1933, 1956, 1974 và hiện nay cũng vậy lịch sử về các đảo này được viết và viết lại. Trong mỗi cuộc khủng hoảng, những người ủng hộ lập trường của Trung Quốc lại công bố những phiên bản mới của lịch sử vốn vẫn tái chế những sai lầm trước đó và đôi khi lại thêm vào trong đó nhiều sai lầm mới của chính họ. Khi mà các cách nhìn nhận này vượt qua rào cản ngôn ngữ nhảy sang tiếng Anh vào giữa thập niên 1970, nền móng lung lay của chúng lại có vẻ rắn chắc đối với những người mới tìm tòi lịch sử lần đầu. Chúng đã được in trên các tạp chí học thuật Phương Tây và ‘trở thành sự thật.’ Nhưng việc xem xét lại các nguồn của chúng làm lộ ra điểm yếu cố hữu của chúng.

Không còn đủ thuận lợi cho những người ủng hộ yêu sách của Trung Quốc dùng những bằng chứng vô căn cứ như vậy làm cơ sở cho lập luận của mình. Đã tới lúc cần thực hiện một nỗ lực phối hợp để xem xét lại các nguồn thông tin gốc đối với phần lớn các khẳng định được các tác giả này đưa ra cũng như đánh giá lại độ chính xác của chúng. Việc giải quyết các tranh chấp phụ thuộc vào đó – cả trong phòng xử án ở The Hague lẫn trong các vùng nước của Biển Đông.

Cựu phóng viên BBC Bill Hayton là tác giả của The South China Sea: The struggle for power in Asia,’ (Biển Đông: cuộc tranh giành quyền lực ở Châu Á), được gọi là cuốn sách đầu tiên đưa ra ý nghĩa rõ ràng về các tranh chấp ở Biển Đông.

Bản dịch được đăng lần đầu trên Viet-studies. Các chú thích do chính tác giả gửi riêng cho người dịch. Nghiencuuquocte.net biên tập một vài chỗ nhỏ trong bản dịch để phù hợp với tiêu chuẩn biên tập của trang.

—————————

[1] Li Dexia and Tan Keng Tat, South China Sea Disputes: China Has Evidence of Historical Claims. RSIS Commentary 165 dated 15 August 2014 Available at http://www.rsis.edu.sg/wp-content/uploads/2014/08/CO14165.pdf. See also Li Dexia, Xisha (Paracel) Islands: Why China’s Sovereignty is ‘Indisputable’. RSIS Commentary 116 dated 20 June 2014. Available athttp://www.rsis.edu.sg/wp-content/uploads/2014/07/CO14116.pdf

[2] Charles Freeman, Diplomacy on the rocks. Remarks at a Seminar of the Watson Institute for International Studies, Brown University 10 April 2015. http://chasfreeman.net/diplomacy-on-the-rocks-china-and-other-claimants-in-the-south-china-sea/

[3] Pete Pedrozo, China versus Vietnam: An Analysis of the Competing Claims in the South China Sea, Center for Naval Analyses, August 2014. Available athttp://www.cna.org/sites/default/files/research/IOP-2014-U-008433.pdf

[4] Hungdah Chiu & Choon‐Ho Park (1975): Legal status of the Paracel and Spratly Islands,Ocean Development & International Law, 3:1, 1-28.

[5] Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea, Methuen New York, 1982.

[6] Greg Austin, China’s Ocean Frontier: International Law, Military Force, and National Development. Allen & Unwin, 1998

[7] Jianming Shen, International Law Rules and Historical Evidence Supporting China’s Title to the South China Sea Islands, 21 Hastings International and Comparative Law Review. 1‐75 (1997‐1998).

[8] Jianming Shen, China’s Sovereignty over the South China Sea Islands: A Historical Perspective, CHINESE JIL (2002), pp. 94‐157

[9] Brian K. Murphy, Dangerous Ground: the Spratly Islands and International Law, Ocean and Coastal L.J. (1994), pp. 187–212

[10] Chi-kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes: The Case of the South China Sea Islands. Routledge 1989

[11] Cheng Huan, A matter of legality. Far Eastern Economic Review. February 1974

[12] Chi-Kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes. Routledge, London. 1989

[13] Tao Cheng, Dispute over the South China Sea Islands, Texas International Law Journal 265 (1975)

[14] Chiu & Park (1975) ibid

[15] Dieter Heinzig. ‘Disputed islands in the South China Sea: Paracels, Spratlys, Pratas, Macclesfield Bank’ Institut für Asienkunde (Hamburg). 1976

[16] Wai-chiao p’ing-lun [Ngoại Giao Bình Luận], Shanghai, vol. 2, no. 10 (October 1933), pp. 64-65

[17] Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo]], vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933), p. 78

[18] Fan-chih yüeh-k’an [Phương Chí Nguyệt San], vol. 7, no. 4 (Nanking, April 1, 1934), p. 2

[19] Wai-chiao-pu kung-pao, [Công Báo Bộ Ngoại Giao] vol 6, no. 3 (July-September 1933), p. 208

[20] Cheng Tzu-yüeh, Nan-hai chu-tao ti-li chih-lūeh [Nam Hải Chư Đảo Địa Lí Chí Lược] (Shanghai: Shang-wu ying-shu-kuan, 1948).

[21] Tuyên bố do Bộ Ngoại Giao Trung Hoa Dân Quốc đưa rangày 10 tháng 6 năm 1956, tóm lược trong “Vietnamese Claim of Sovereignty Refuted,” Free China Weekly, June 26, 1956, p. 3;Chung-yang jih-pao, June 11, 1956, p. 6; Shao Hsun-cheng, “Chinese Islands in the South China Sea,” People’s China, no. 13 (Peking, 1956) Foreign Languages Press

[22] Lien-ho-pao [United daily news], overseas edition, February 25, 1974, p. 3; “Memorandum on Four Large Archipelagoes,” ROC Ministry of Foreign Affairs (February 1974).

[23] Ming Pao (nguyệt san) No. 101 May 1974

[24] Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea’, Methuen, New York. 1982

[25] Chris P.C. Chung, “Since Time Immemorial”: China’s Historical Claim in the South China Sea. MA Thesis, University of Calgary, September 2013. p8

[26] PRC Ministry of Foreign Affairs, China’s indisputable sovereignty over the Xisha and Nansha islands, Beijing Review Vol. 23 No.7 1980 pp15-24

[27] Lin Jinzhi, Renmin Ribao (People’s Daily) 7 April 1980. FBIS-PRC-80-085 30 April 1980 p.E6

[28] Duanmu Zheng ed. Guoji Fa (International Law) Peking University Press, Beijing 1989

[29] Điều đáng lưu ý là Duanmu không phải là đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc mà là thành viên của Liên Đoàn Dân Chủ Trung Quốc. Colin Mackerras, The New Cambridge Handbook of Contemporary China. Cambridge University Press, 2001 p85.

[30] Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal. Discussion Paper #14. IRASEC (Research Institute on Contemporary Southeast Asia), Bangkok. November 2012

[31] Ulises Granados, As China Meets the Southern Sea Frontier: Ocean Identity in the Making, 1902-1937. Pacific Affairs Vol. 78, No. 3 (Fall, 2005), pp. 443-461

[32] Xem, đặc biệt là, Stein Tonnesson, The South China Sea in the Age of European Decline.Modern Asian Studies. Vol 40, Issue 01. February 2006, pp 1-57 and An International History of the Dispute in the South China Sea, East Asia Institute Working Paper No. 71 (2001)

[33] The Times “Chinese foreign relations” Jan 18, 1908; pg. 5; The Times “The recent piracy in Canton waters”. Jan 25, 1908; pg. 5

[34] The Examiner (Launceston, Tasmania) “China and her islands-keeping an eye on foreign nations” Saturday 12 June 1909 p 8

[35] Xem Granados (2005) phía trên.

[36] Điều này được chính quyền Tỉnh Quảng Đông tiết lộ năm 1933. XemCho Min, “The Triangular Relation- ship Among China, France and Japan and the Question of Nine Islands in South Sea,” Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo], Vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933); p. 82, note 4.

[37] Hydrographic Office, The Admiralty, The China Sea Directory, Vol. 2, London, 1889, p.103. Quoted in Bonnet 2012

[38] Tham khảo của Cheng: Saix, Iles Paracels, La Geographie (Nov.-Dec. 1933), reprinted in 3Wai Chiao Ping Lun (Foreign Affairs Review), No. 5 (Hu Huan-Yung Chinese transl. May 1934), at 65-72;, at 67; Hu, Fa-jen Mou-tuo Hsi-Sha Ch’ün-tao [The French Plot to Snatch the Paracel Islands], 3 Wai Chiao Ping Lun (Foreign Affairs Review), No. 4 (April 1934), at 92.

[39] “On Li Chun’s Patrol of the Sea”(Về chuyến tuần tra của Lí Chuẩn) Kuo-wen chou-pao[National news weekly], vol. 10, no. 33 (August 21, 1933), p. 6.

[40] Committee of Place Names of the Guangdong Province [Guangdong sheng di ming wei yuan hui (Quảng Đông Tỉnh địa danh uỷ viên hôi)], Compilation of references of the names of all the South Sea islands [Nan Hai zhu dao di ming zi liao hui bian (Nam Hải chư đảo địa danh tư liệu hội biên)], Guangdong Map Publishing Company [Guangdong sheng di tu chu ban she], 1987, p.289

[41] Bài viết do Francois-Xavier Bonnet trình bày tại the Southeast Asia Sea conference, Ateneo Law Center, Makati, Manila. March 27 2015. (Tường thuật có ở đây:http://opinion.inquirer.net/84307/a-chinese-strategy-manipulating-the-record)

[42] Lu, Hsi-sha Ch’iin-tao Chih-yao [Tây Sa Quần đảo Sơ yếu], 9 Hsin Ya Hsi Ya Yueh Kan No. 6 (June 1935), at 50-54.

[43] Cho Min, “The Triangular Relationship Among China, France and Japan and the Question of Nine Islands in South Sea,” Wai-chiao yüeh-pao [Ngoại Giao Nguyệt Báo], vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], September 15, 1933), p. 78.

[44] Cheng Tzu-yüeh [Trịnh Tư Ước], Nan-hai chu-tao ti-li chih-lūeh [Nam Hải chư đảo địa lí chí lược] (Shanghai: Shang-wu ying-shu-kuan, 1948), p.80

[45] Jianming Shen, International Law Rules and Historical Evidence Supporting China’s Title to the South China Sea Islands, 21 Hastings International and Comparative Law Review. 1‐75 (1997) footnote 160.

[46] François-Xavier Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal, IRASEC Discussion Papers #14, Bangkok November 2012.

[47] Wai Jiao bu nan hai zhu dao dang an hui bian [Ngoại Giao Bộ Nam Hải chư đảo đương án hội biên], Vol. 1, Taipeh, 1995, p. 47-49. Trích dẫn trong François-Xavier Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal. Discussion Paper #14. IRASEC (Research Institute on Contemporary Southeast Asia), Bangkok. November 2012

[48] Xem Ministry of Foreign Affairs, “Nansha Qundao [南沙群島, or the “Spratly Archipelago”],” The Historical Archives of the Department of Modern History in the Academia Sinica [Zhongyang Yanjiuyuan Jindaishi Yanjiusuo Dang’an Guancang 中央研究院近代史研究所檔案館藏], file series 019.3/0012, file 031. This ROC official telegram is dated August 24, 1946. AND Ministry of Foreign Affairs, “Nansha Qundao [南沙群島, or the “Spratly Archipelago”],” The Historical Archives of the Department of Modern History in the Academia Sinica [Zhongyang Yanjiuyuan Jindaishi Yanjiusuo Dang’an Guancang 中央研究院近代史研究所檔案館藏], file series 019.3/0012, file 145-146. This ROC official telegram is also dated to 1946. The month is unclear.

[49] Chen Keqin, Zhong guo nan hai zhu dao (Trung Quốc Nam Hải chư đảo) Hainan International Press and Publication Center, Haikou 1996

[50] A.B. Feuer, Australian Commandos: Their Secret War Against the Japanese in World War II (Mechanicsburg, Pennsylvania, 2006), Chapter 6.

[51] US Navy Patrol Bombing Squadron 117 (VPB–117), Aircraft Action Report No. 92, available athttp://www.fold3.com/image/#302109453.

[52] US Navy, USS Cabrilla Report of 8th War Patrol, available athttp://www.fold3.com/image/#300365402 .

- See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/06/01/cac-thuc-te-va-su-bia-dat-o-bien-dong/#sthash.bvtg8OXH.yOjtJ0a9.dpuf

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 1 năm 2015

Quan hệ Việt-Trung đã hết thời triều cống

Đối với người Việt và cả người TQ, những năm chẵn thường được coi trọng hơn hơn năm lẻ. Vậy năm 2015 là con số đẹp đáng được chọn để điểm lại mối quan hệ giữa hai nước láng giềng bất đắc dĩ này, đặc biệt trong thời kỳ 70 năm qua và thời gian sắp tới.

Xâm lấn và bành trướng lãnh thổ là bản chất của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán 

Có thể nói quan hệ Việt-Trung là một trong những cặp quan hệ chứa đựng đầy đủ đặc điểm của loại hình quan hệ giữa các quốc gia dân tộc từ thời thượng cổ đến thời hiện đại, đặc biệt là quá trình đấu tranh sinh tồn của một nước nhỏ trước họa bành trướng của một nước lớn cận kề. Điều này được minh chứng rõ ràng trong cả quá trình lịch sử lâu đời từ thời tiền sử đến ngày nay. Có số liệu tổng kết rằng kể từ khi thoát khỏi ánh đô hộ 1.000 năm Bắc thuộc Việt Nam đã hứng chịu không dưới 12 cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn từ Trung Quốc (chưa kể cuộc chiến tranh biên giới 1979). Lịch sử cho thấy ngay từ thời nhà Hạ bên Trung Quốc tương đương thời vua truyền thuyết Kinh Dương Vương của Việt Nam tức quảng cuối Thiên niên kỷ thứ 3 trước CN, Hán tộc từ phía Bắc đã lấn chiếm lãnh địa của Việt tộc ở phía Nam sông Dương Tử. Đến thời các triều đại An Dương Vương, Triệu Việt Vương (Triệu Đà) và Hai Bà Trưng kéo dài quảng 300 năm trước và sau CN tuy được coi là thời kỳ quật khởi của người Việt nhưng cuối cùng vẫn bị Hán tộc dồn đẩy về phía Nam. Tiếp đến là thời kỳ 1.000 năm Bắc thuộc mà qua đó tộc Lạc Việt không chỉ bị dồn đẩy đến tận cùng phía Nam mà còn đứng trước nguy cơ bị đồng hóa hoàn toàn như nhiều tộc Việt anh em của họ bên Trung Quốc. 

May thay nguy cơ này đã được cứu vãn qua hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của người Việt bản địa kết hợp với những người gốc gác Bách Việt hội tụ về đây để chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất và thiết lập lại nền độc lập tự chủ với bản sắc Việt tộc của mình. Nền độc lập này được khẳng định vào năm 1077 với bài hịch nổi tiếng của Vua Lý Thường Kiệt: 

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tuyệt nhiên định phận tại Thiên Thư, 
Như Hà nghịch lỗ lai xâm phạm, 
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư. 

Cũng hoàn toàn không phải vô cớ mà Vua Quang Trung sau khi đánh bại quân Thanh năm 1792 đã rắp tâm lấy lại vùng lãnh thổ Lưỡng Quảng nhưng không may lâm bạo bệnh qua đời chưa thực hiện được. Điều này cho thấy ý thức về nguồn cội dân tộc và lãnh thổ vẫn luôn còn đó trong tâm thức người Việt. 

Bàn về sự thật lịch sử quan hệ Hán-Việt, một học giả Trung Quốc tên là  Le Oa Đằng mới đây có bài viết cho rằng Việt Nam là hậu duệ, là đại diện của người Bách Việt. Trong bài viết, ông cũng cho rằng người Việt Nam là chủ nhân đích thực của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (chứ không phải như tài liệu tuyên truyền của Bắc Kinh rêu rao). 

Thực tế cũng cho thấy hoàn toàn không đơn giản như một số người vẫn còn ảo tưởng rằng Trung Quốc dưới chế độ cộng sản và XHCN không còn bản chất xâm lược bành trướng! Nói cách khác, không có một phép màu nhiệm nào có thể làm thay đổi bản chất và cục diện quan hệ giữa hai cựu thù mà trong đó nước lớn Trung Quốc luôn lăm le xâm lược và thôn tính nước nhỏ Việt Nam. Mặt khác, thực tế lịch sử cũng cho thấy, dù chưa thể thôn tính và đồng hóa được Việt Nam, nhưng các thế lực bành trướng Đại Hán đã và đang khá thành công trong thủ đoạn kìm hãm Việt Nam trong vòng cương tỏa của chúng để dễ bề tiếp tục lấn chiếm và bành trướng lãnh thổ về phía Nam.

Chuyển hướng bành trướng từ đất liền ra biển 

Trong bối cảnh thế giới ngày nay, mọi quốc gia đều tồn tại trong sự tùy thuộc lẫn nhau một cách cao độ khiến cho việc mang quân xâm lược một cách công khai trắng trợn đối với một quốc gia khác không phải là giải pháp khôn ngoan nếu không nói là không thể thành công. Điều này giới lãnh đạo Bắc Kinh chắc chắn đã nhận ra, nhưng đồng thời cũng nhận thấy rằng niềm tự hào là Vương quốc ở "giữa thiên hạ" (Middle Kingdom) nay lại ở vào thế bị kẹt giữa thiên hạ, và do đó nung nấu tham vọng mở rộng không gian phát triển ra phía đại dương là hướng mà ông cha họ chưa bao giờ nghĩ tới. Nếu như các triều đại Vương Triều xưa chỉ biết mở rộng bờ cõi bằng cách lấn chiếm đất đai của các nước kế cận, thì giới lãnh đạo Trung Quốc ngày nay đã biết coi trong vai trò của biển và đại dương. Và đó là nguyên nhân khiến họ thay đổi hướng xâm lược bành trướng bằng cách lấn chiếm biển đảo của các nước ven  Biển Hoa Đông và Biển Đông, xa hơn sẽ là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, không loại trừ Nam Cực. 
Sơ đồ về phạm vi đòi hỏi chủ quyền của các nước tại Biển Đông 

Tất nhiên để thực hiện hướng bành trướng phi truyền thống này, Bắc Kinh phải tính toán và chuẩn bị kỹ lưỡng theo phương châm "ẩn mình chờ thời" của cựu lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đề ra, bởi lẽ các vùng biển này đều đã có chủ; chỉ còn cách làm sao để "biến không thành có". Và Bắc Kinh chỉ còn cách là xâm chiếm biển đảo của các nước khác cũng như một số vùng biển thuộc hải phận quốc tế.

Để thực hiện âm mưu đó, suốt 70 năm nay giới lãnh đạo Bắc Kinh đã và đang kiên trì bằng mọi thủ đoạn, khi thì giả vờ hữu hảo, khi thì trở mặt gây sức ép quân sự, chính trị, kinh tế đối với Việt Nam. Thời điểm họ lựa chọn đánh chiếm Hoàng Sa đầu năm 1974, rồi đánh chiếm một số bãi đá ở Trường Sa đầu 1988 cho thấy chiến thuật đó. Vụ Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào khoan thăm dò dầu khí sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tháng 6/2014 đồng thời với chiến dịch "đảo hóa" tại một số bãi ngầm giữa Biển Đông đều nhằm phục vụ ý đồ độc chiếm Biển Đông, trong đó mục tiêu chính là thiết lập những "cột mốc chủ quyền" mới của Trung Quốc trên Biển Đông. 

Thay đổi chiến thuật và hướng bành trướng là việc của Trung Quốc. Nhưng có điều trớ trêu là, sự thay đổi hướng bành trướng ra biển như nói trên lại một lần nữa đặt Việt Nam vào thế đối đầu trực diện với Trung Quốc, đơn giản vì Việt Nam là nước có bờ biển chạy dài từ Bắc xuống Nam và cũng là chủ nhân của 2 quần đảo ngoài khơi Biển Đông án ngữ trên con đường bành trướng của "Vương Triều mới". Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc không chỉ đe dọa Việt Nam mà còn đe dọa lợi ích của các quốc gia ven Biển Đông khác cũng như toàn bộ khu vực ASEAN và thế giới, đặc biệt các cường quốc hàng hải  như Nhật, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Anh, Pháp, v.v...  Sự độc chiếm của Trung Quốc đối với 2 quần đảo này đồng nghĩa với việc quốc tế  mất quyền đi lại tự do trên Biển Đông và điều này là không thể chấp nhận được. Nói cách khác, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam nhưng chúng đều nằm trong vùng biển quốc tế và do đó vai trò bảo vệ còn phụ thuộc vào quốc tế . Chính vì lý do này, để tránh sức ép quốc tế, Bắc Kinh luôn một mực khước từ việc "quốc tế hóa" đối với mọi tranh chấp ở Biển Đông đồng thời ra sức chia rẽ nội bộ ASEAN để cô lập Việt Nam.   

Với cục diện đã hoàn toàn thay đổi trên thế giới ngày nay khi mà mọi hành động gây hấn của một quốc gia đều có thể nhanh chóng biết đến trên quy mô toàn cầu. Thế giới đã lập ra nhiều tổ chức quốc tế với rất nhiều thiết chế luật lệ để điều phối các mối quan hệ giữa các quốc gia. Mặc khác, với trình độ giao thông liên lạc vô cùng nhanh nhạy, với các mối quan hệ trao đổi kinh tế, thương mại, khoa học-công nghệ, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng vô cùng đa dạng, đa năng ngày nay thì quảng cách không còn là vấn đề lớn trong khái niệm lựa chọn đối tác, bạn-thù và đồng minh. Trong hoàn cảnh và điều kiện mới của thế giới ngày nay, một nước lớn nếu có ý đồ khống chế hay "bắt nạt" một nước nhỏ quả là không dễ dàng và đơn giản như trong quá khứ. Bài học của Mỹ tại Trung Đông và Nga tại Ucraina hiện nay cho thấy điều này. Và Trung Quốc sẽ không phải là ngoại lệ. 

Trung Quốc đã thay đổi Việt Nam không thay đổi mới là chuyện lạ

Như đã nói trên đây, chính sách bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc vẫn còn đó nhưng hướng và biện pháp đã có những thay đổi cơ bản. Xưa kia Trung Quốc chỉ bành trướng trên bộ, nay bành trướng ra hướng biển và đại dương. Trước đây mỗi khi các triều đại Trung Quốc tiến đánh Việt Nam, dù thắng hay thua, thế giới có thể không biết hoặc biết khi đã quá muộn. Vào thời đó hầu như chưa có khái niệm về sự can thiệp giúp đỡ từ quốc tế.  Trong hoàn cảnh đó Việt Nam không có cách nào khác là phải tự mình tìm cách thích ứng để tồn tại bên cạnh Vương Triều. Đó là lý do của sự ra đời sách lược mềm dẻo khôn khéo và thái độ nín nhịn "tránh voi chẳng xấu mặt nào", kể cả việc phải "triều cống" bằng lễ vật đối với kẻ thù ngay cả sau khi đã đánh bại chúng. Và sách lược đó đã cho thấy hiệu quả trong suốt hàng trăm năm trước đây và đã trở thành nếp nghĩ và là ưu tiên lựa chọn đối với  người Việt Nam trong quan hệ với nước lớn Trung Quốc.  


Tiếp đến trong 70 năm qua sau khi thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp người Việt Nam lại sa vào một cái bẩy mới của Trung Quốc-đó là khái niệm "tương đồng về ý thức hệ" giữa hai nước cùng theo chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Về mặt này, người Việt Nam tỏ ra trung thành hơn cả người Trung Quốc, biểu hiện ở chỗ là, trong khi Trung Quốc liên tục "đổi màu" bằng những bước đi dài với phương châm "mèo trắng mèo đen miễn bắt được chuột" thì người Việt Nam chỉ dừng lại ở khái niệm "đổi mới" chung chung một cách dè dặt. Sau bao phen bị "ông anh" cùng ý thức hệ phản bội bằng những cuộc chiến tranh nóng cùng với các thủ đoạn phá hoại ngầm về kinh tế-chính trị-xã hội khiến Việt Nam phải điêu đứng, nhưng người Việt Nam xem ra vẫn còn hy vọng vào những lời hứa hão huyền "4 tốt", "16 chữ vàng", "lấy đại cục làm trọng", "anh em tốt, láng giềng tốt" v.v...

Lẽ ra khi Trung Quốc thay đổi phương thức và địa bàn bành trướng thì Việt Nam cũng phải thay đổi phương thức đấu tranh, trước hết không việc gì phải quá lo sợ về một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn từ Trung Quốc; điều đáng lo hơn là âm mưu của Bắc Kinh một mặt kìm giữ VN trong vòng cương tỏa của họ, một mặt chia rẽ nội bộ Việt Nam và chia rẽ Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Đó là thủ đoạn mà Bắc Kinh ráo riết áp dụng từ thời đảng Cộng sản lên nắm quyền và đã khá thành công trong những năm gần đây khi họ nhiều lần "trùm chăn đánh Việt Nam" mà thế giới không biết hoặc chỉ biết khi sự đã rồi. Đó là trường hợp cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc đến các cuộc chiến tranh chớp nhoáng ở Hoàng Sa, Trường Sa, tất cả đều diễn ra tay đôi giữa hai nước cộng sản anh em. Sự kiện giàn khoan HD 981 lúc đầu cũng đã bị ém nhẹm; nếu không được công luận lên tiếng qua mạng internet thì chắc sự im lặng đó còn kéo dài hơn và hậu quả có thể đã xấu hơn. E rằng việc Bắc Kinh đang ráo riết xây dựng căn cứ quân sự tại các bãi đá giữa Biển Đông đang có nguy cơ rơi vào yên lặng và trở thành "sự đã rồi " như các đợt lấn chiếm trước đó. Cho đến nay Trung Quốc chưa trả lại và cũng không có ý định trả lại những phần lãnh thổ biển đảo đã lấn chiếm của Việt Nam.        

Phải chăng bài học đối với Việt Nam ngày nay là không nên ngần ngại hoặc nín nhịn quá mức mà phải thể hiện thái độ công khai dứt khoát đối với mọi vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, đặc biệt tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, theo tinh thần luật pháp quốc tế bất luận Bắc Kinh có bằng lòng hay không. Đồng thời đường lối "sẵn sàng làm bạn với tất cả" cần được thể hiện một cách cụ thể qua việc tăng cường quan hệ với các nước thứ ba như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, v.v... coi đó là nhân tố cần thiết để ứng phó với Trung Quốc trong những tình huống xấu nhất. Vẫn biết quan hệ với Trung Quốc là quan trọng và cần được ưu tiên giữ gìn, nhưng để tránh chiến tranh với Trung Quốc cách tốt nhất là tiến hành các biện pháp răn đe phòng ngừa từ trước, chứ không phải chỉ có nín nhịn cho đến khi nó xảy ra. Trung Quốc không bao giờ từ bỏ tham vọng độc chiếm Biển Đông. Và Việt Nam chỉ có thể bảo vệ mình với sự hỗ trợ của tập thể ASEAN và cộng đồng quốc tế. Ngược lại, ASEAN và quốc tế cần Việt Nam để bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông. Đó có lẽ là cách tiếp cận thực tế và hiệu quả nhất đối với Việt Nam trong bối cảnh tương quan lực lượng của thế giới ngày nay. 
  

Thứ Tư, ngày 17 tháng 12 năm 2014

Cuộc dịch chuyển lịch sử của hơn 32.000 học sinh miền nam


VN net, 14/12/2014: Năm 1954, hiệp định Giơnevơ được ký kết. Cùng với việc tập kết bộ đội và cán bộ miền Nam ra Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Chính phủ chủ trương đưa học sinh từ 6 -7 tuổi cho đến 19-20 tuổi là con em cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền Nam từ các địa phương ra miền Bắc học tập. Nhiệm vụ là đào tạo thành đội ngũ kế cận cho cách mạng miền Nam cũng như cách mạng cả nước sau này.Từ năm 1954 đến 1975, hơn 32.000 học sinh miền Nam lần lượt theo xe bộ đội, đi tàu thủy, đi bộ vượt dãy Trường Sơn… ra miền Bắc học tập. Hàng chục nghìn người trưởng thành lại trở về xây dựng miền Nam.

Thứ Hai, ngày 13 tháng 10 năm 2014

Vì sao "Sống cùng lịch sử"chết ỉu

Cuốn film nhựa "Sống cùng lịch sử" trị giá 21 tỷ đồng do Nhà nước đầu tư vừa ra lò nóng hổi đã bị ế đến mức phải rao chiếu miễn phí trên toàn quốc, nhưng số người đi xem vẫn thưa thớt. Dư luận công chúng, báo giới và cả giới bình luận chuyên nghiệp đều chê cuốn film cả về nghệ thuật lẫn nội dung. Một số ý kiến đổ lỗi cho cơ quan quản lý và cá nhân những người làm film. Có ý kiến cho rằng có nhiều điều không đúng sự thật lịch sử...trong khi ý kiến khác chê trình độ kỹ thuật, kỹ xảo v.v...Cũng cố ý kiến cho rằng có tiêu cực tham nhũng trong quá trình làm film. Hình như thói đời vẫn thế- hễ dậu đổ là bìm leo- đâu đó thấy khá nhiều ý kiến chê film dỡ quá, thậm chí nhiều người chưa xem phim cũng chê! Đã thế thì tẩy chay cho bỏ tức! 

Nhìn chung ý kiến khá phức tạp và trái ngược nhau mặc dù xem ra ý kiến nào cũng có lý cả. Có một điều đáng suy nghĩ là, bất chấp doanh thu thấp và sự phê phán của công luận, những người trong giới quản lý ngành điện ảnh (và cả bản thân đạo diễn cuốn film thì phải?) lại đánh giá "Đã hoàn thành nhiệm vụ...theo chỉ đao". Điều này có nghĩa họ coi trọng việc hoàn thành nhiệm vụ được giao phó hơn là doanh thu! Với tất cả những gì đã và đang diễn ra có thể thấy số phận cuốn film vốn đã hẫm hiêu chắc sẽ nhanh chóng đi vào lịch sử, chứ khó có thể sống cùng lịch sử!

Với tâm trạng băn khoăn, người viết bài này đã quyết định đến Trung tâm chiếu bóng quốc gia (Hà Nội) để mục sở thị xem thực hư thế nào. Và khi chưa xem thì không dám phát biểu, nhưng xem rồi thì thấy không thể không nói đôi điều.



Trước hết phải nói cuốn film không tồi, cả ở góc độ nghệ thuật lẫn nội dung. Kỹ thuật quay, hình ảnh, âm thanh, tốc độ, kỹ năng, kỹ xảo,v.v...  đều bắt kịp thời đại. Nội dung cũng khá ổn, không có gì đến mức phải nói là "không đúng sự thật" như một số người nhận xét. Dàn diễn viên có cả người ta và người tây đều trẻ đẹp. Có thể nói đạo diễn đã có sự sáng tạo và mạnh bạo trong việc thay đổi cách làm đối với loại film chính trị thường đòi hỏi sự nghiêm túc, cứng nhắc lâu nay. Ý tưởng lồng ghép một chủ đề lịch sử tưởng nhàm chán với một hoạt động "thời thượng" của giới trẻ VN hiện nay là đi phượt có lẽ nên được đánh giá cao, ít nhất là trong trường hợp cụ thể của film này. 

Một cảnh trong film Sống cùng lịch sử
Vậy tại sao không có người xem? Tất nhiên có một số nguyên nhân khác nhau, trong đó có sự yếu kém trong khâu hậu mãi, nhưng có nguyên nhân chính thuộc về phía khán giả, trước hết là tâm lý muốn "quên" quá khứ một thời CM? Nói vậy nghe có vẻ võ đoán, vơ đũa cả nắm..., nhưng đó là sự thật nếu chịu nhìn thẳng vào nguyên nhân sâu xa của nó là tình trạng mất lòng tin vào giới lãnh đạo đất nước hiện nay. Khi người dân đã nghe nói quá nhiều về cách mạng nhưng thấy nhiều đồng chí bây giờ toàn làm ngược lại...thành ra họ nghĩ các ổng (ông í) toàn tuyên truyền! Dần dà người ta trở nên dị ứng với những từ ngữ "cách mạng", "lịch sử"...là điều khó tránh khỏi. Thế hệ già còn bị tác động, huống chi thế hệ trẻ? Người Việt lại có thói xấu hay theo đuôi nhau!

Sẽ suy nghĩ thêm. Nhưng cảm nhận khá mạnh mẽ sau buổi xem film là như vậy.


Chủ Nhật, ngày 05 tháng 10 năm 2014

Thoát Trung là thoát cái gì và để làm gì?

Không phải ngẫu nhiên, đúng vào thời gian TQ xâm lược bằng giàn khoan và tàu thuyền bắt đầu từ tháng 1/5 vừa qua người Việt trong nước cũng như  hải ngoại lại dấy lên phong trào "thoát Trung" (còn gọi là "thoát Trung luận"). Nhưng có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Người viết bài này xin mạn phép nêu lên ý kiến cá nhân để góp phần thảo luận. Đó là thoát Trung là thoát khỏi sự hiểu biết nhầm lẫn về nguồn cội của mình từ đó sinh ra tâm thế yếu hèn trước kẻ thù truyền kiếp. Cũng không nên đánh đồng phong trào thoát Trung với "bài Trung" hoặc "chống Trung". Dưới đây là một số cơ sở cho cách suy nghĩ đó. 

Thứ Sáu, ngày 03 tháng 10 năm 2014

Tư liệu: Đơn kiến nghị của vợ hai cố TBT Lê Duẩn gửi 16 UV BCT, về ông Võ Nguyên Giáp

Lời giới thiệu của trang chủ Bách Việt: Thời gian gần đây xuất hiện cái gọi là "Đơn kiến nghị" của bà Nguyễn Thị Vân -vợ thứ hai của cố Tổng bí thư Đảng CSVN Lê Duẩn. (Bà Vân hiện đang còn sống tại Tp Hồ Chí Minh). Bức thư đã được phát tán rộng rãi trên nhiều kênh thông tin trong nước và quốc tế dù muốn hay không đã trở thành một chủ đề cuốn hút sự quan tâm của dư luận. Có điều đáng lạ là, cho đến nay chưa thấy ý kiến hay lời cải chính  gì của các bên liên quan. Và điều này khiến cho lá đơn dù chưa xác định được tính "chính thống" của nó, có thực không và nếu có thì mức độ chính xác bao nhiêu, v.v..., cũng đã và đang dấy lên những tình cảm lẫn lộn trong xã hội vốn đang trong thời kỳ khủng hoảng lòng tin nghiêm trọng. Thiết nghĩ đây là một bài học không chỉ của quá khứ mà của hiện tại và tương lai đối với đất nước và dân tộc này. Đó là lý do khiến trang chủ Bách Việt xin mạn phép đăng lại bức thư ở dạng ảnh chụp để  bạn độc tiện tham khảo như một tư liệu. Xin nhắc lại chỉ như một tư liệu tham khảo chưa được kiểm chứng.   

Thứ Sáu, ngày 22 tháng 8 năm 2014

Nhận thức của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên về lịch sử Việt Nam (*)



This entry was posted on Tháng Bảy 4, 2014, in Lịch sử Việt Nam and tagged Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên. Bookmark the permalink. Để lại bình luận

Vietnam Borderless Histories. Published August 29th 2006 by University of Wisconsin Press.


“Một so sánh về nhận thức của hai sử gia Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên về lịch sử Việt Nam” [“Lê Văn Hưu and Ngô Sĩ Liên - A Comparative of their Perception of Vietnamese History”] là tựa đề tiểu luận của Yu Insun, nguyên giáo sư ban Sử Á châu tại Đại học Quốc gia Hán Thành [Seoul National University].

Chủ Nhật, ngày 22 tháng 6 năm 2014

Đôi lời nhân chuyện báo chí TQ gọi Việt Nam là "đứa con đi hoang" (*)

(*) Thông báo của Chủ blog Bách Việt: Sau một ngày entry này được phát hành, tác giả bài viết tình cờ phát hiện cụm từ "đứa con đi hoang" có thể vì một lý do nào đó đã bị dịch sai lệch từ tiếng Trung sang tiếng Anh ("lãng tử quay đầu" thành "đứa con hoang đàng"). Tuy nhiên, sau khi truy tìm trên mạng chủ blog tôi không hề thấy bản dịch tiếng Anh trên phiên bản tiếng  Anh của tờ Hoàn Cầu (chắc là đã được gỡ bỏ) cũng không thấy ai cải chính, nhưng lại thấy cư dân mạng TQ tự phê phán giới ngoại giao và báo chí TQ đã đưa ra từ "đứa con hoang đàng". Như vậy rất có thể từ này là có thật như đã được phóng viên phương Tây trích đăng. Do đó chủ blog tôi quyết định vẫn giữ nguyên bài viết đồng thời cũng mong bạn đọc lượng thứ nếu có gì bất tiện. Xin cảm ơn.
---------------------------------------------------------------------------------
   
Nhân chuyến đi Việt Nam của Dương Khiết Trì ngày 18/6, báo chí TQ đã lập tức xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn nhằm đổi trắng thay đen và bôi nhọ VN.  Đây không phải lần đầu mà là một món nghề gia truyền của TQ vì họ nghĩ mình là nước lớn đông dân thì cứ to mồm nói càn thì có thể biến không thành có, biến sai thành đúng...

Người Việt lâu nay đã biết quá rõ và thế giới cũng đang nhận ra tật xấu này của TQ. Nhưng riêng việc báo giới TQ kêu gọi "đứa con đi hoang (prodigal son) trở về nhà" (1) thì thật nực cười. Nó cho thấy tình trạng bệnh hoạn và thái độ láo xược ngông cuồng của chủ nghĩa bành trướng bá quyền đại Hán một lần nữa lại xúc phạm tình cảm của 90 triệu nhân dân VN và bản thân nhân dân TQ. Xin bảo thẳng vào mặt bọn họ một câu trước đã: Không có chuyện nước lớn nước nhỏ (2), lại càng không có chuyện nước cha mẹ, nước con cái và ai về với ai ở đây!

Các tên và vị trí  trong bản đồ này chỉ mang tính minh họa 
Nói vậy là vì, bất cứ ai nghiên cứu lịch sử cổ đại TQ đều biết trên đất Trung Quốc ngày nay đã có hàng trăm tộc người Việt (sử TQ chép là "Bách Việt") cư trú trên khắp miền đất phía Nam sông Dương Tử, chính xác là phía Bắc giáp sông Dương Tử, phía Nam đến miền Bắc VN ngày nay, phía Tây giáp Tây Tạng, phía Đông Giáp biển Thái Bình Dương.  Cách nay khoảng 5.000 năm trong quá trình hình thành và phát triển quốc gia, người Hán đã tràn xuống phía nam xâm lấn đất đai của người Bách Việt. Tuy không đầy đủ nhưng sử sách và truyền thuyết của cả TQ và VN đều cho thấy thực tế lịch sử này, trong đó nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn có thể được coi là một ví dụ. 

Trường hợp Việt Nam cho thấy sau nhiều thời kỳ bị xâm lấn, các vương quốc Bách Việt lần lượt bị chinh phục, rồi bị đồng hóa với các mức độ và tốc độ khác nhau bởi Hán tộc; đến giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên thì vương quốc Văn Lang (Lạc Việt) một phần bị thôn tính, một phần bị đẩy xuống phía nam và trụ lại với tên gọi Âu Việt của An Dương Vương, sau đó là Nam Việt của Triệu Đà (3) trước khi bị các triều đại Hán tộc chinh phục hoàn toàn và thống trị trong thời gian dài được sử sách gọi là "ngàn năm Bắc thuộc". 

Vì nhiều lý do khác nhau, trong đó lý do chính là ý đồ xuyên tạc và tráo đổi sự thật lịch sử của các triều đại TQ, phần tiền sử của dân tộc Việt Nam ngày nay chỉ còn biết đến qua truyền thuyết về các Vua Hùng và Âu Cơ Lạc Long Quân. Tuy nhiên, khác với các vương quốc Bách Việt khác, Việt Nam sau thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc đã không bị đồng hóa mà vẫn trụ vững với bản sắc Việt của mình. Và đây là quốc gia dân tộc độc lập còn lại duy nhất của Bách Việt. Đây cũng là thành quả chung của Bách Việt vì trong thời kỳ nào cũng có nhiều thế hệ người gốc Bách Việt (kể cả những quan lại do Vương triều cử đến VN) đã chọn cách hội tụ tại vùng đất này để lập quốc nhằm giữ gìn cốt cách và bản sắc văn hóa của người Việt. 

Vẫn biết hiện tượng xâm lấn, chiếm đoạt đất đai và đồng hóa dân tộc đưa đến sự thịnh hoặc suy của các quốc gia trên thế giới là lẽ đương nhiên, kể cả trường hợp giữa Hán tộc và Việt tộc. Nhưng nếu cố tình xuyên tạc, tráo đổi sự thật lịch sử là một tội ác trước nhân loại. Trên thực tế, giới cầm quyền TQ thời nào cũng vi phạm tội ác này. Họ không bao giờ chịu thừa nhận thực tế là các tộc người Bách Việt chiếm phân nửa dân số của TQ ngày nay và chính người Hán đã thừa hưởng kho tàng giá trị nhân văn vô giá của người Bách Việt để có nền văn minh TQ hiện đại. Họ cũng che dấu thực tế bên trong nước TQ ngày nay chưa hẳn đã hoàn toàn ổn định trước trào lưu đòi tự trị hoặc độc lập của các tộc người không phải Hán tộc như Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, người Tạng ở Tây Tạng, và một số dân tộc thiểu số gốc gác Bách Việt ở miền nam; trường hợp Đài Loan là khá rõ ràng với đa số Mân Việt  và người bản địa Đài Loan. Những kẻ có đầu óc đại Hán nếu thích thì có thể coi các phong trào ly khai như những "đứa con hoang đàng", nhưng dứt khoát không thể sử dụng từ đó đối với VN một quốc gia độc lập ngang hàng với TQ về mọi mặt.    
Chỉ có những kẻ bất chấp sự thật mới dám gọi Việt Nam là "đứa con hoang đàng"(của TQ). Đó là cách gọi vô lối xấc xược mà chỉ những kẻ tư tưởng dân tộc bá quyền nước lớn mới sử dụng, nếu không được ngăn chặn sẽ trở thành chủ nghĩa phát xít chưa biết chừng. Nếu còn chút liêm sỉ họ nên biết trân trọng giữ gìn những mặt tốt đẹp của quá trình giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Việt- Hán, biết tôn trọng mối quan hệ bình đẳng giữa hai quốc gia có chủ quyền. Nếu làm ngược lại điều này họ sớm muộn sẽ đẩy quan hệ hai nước vào vòng xoáy của bạo lực, và TQ không thể tránh khỏi thất bại, thậm chí tan rã như đã từng thấy trong lịch sử.  

Ghi chú:
(1) trích đoạn nguyên văn tiếng Anh bài báo trên Tạp chí Diplomat:
" The tone of these articles painted Yang as something like a patient teacher sent to deal with a particularly recalcitrant student. This attitude was most evident in the nationalistic media outlet Huanqiu (the Chinese-language counterpart of Global Times). Huanqiu characterized Yang’s visit as a gift from China, offering Vietnam yet another chance to “rein itself in before it’s too late.” Yang’s function in Hanoi was to “clarify the bottom line and the pros and cons” of the situation. In talking with Vietnam, Huanqiu said, China was “urging the ‘prodigal son to return home.’” Based on this interpretation, it seems that Yang was not in Hanoi for a real dialogue, but simply to deliver a lecture."
(2) Phát biểu của  Ngoại trưởng TQ Dương Khiết Trì tại Diễn đàng Sangri-La mới đây và đã bị dư luận quốc tế phản đối. 
(3) Được biết sử sách TQ không thừa nhận Nam Việt của Triệu Đà trong khi sử sách VN các thời kỳ phong kiến như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi.. đã coi Triệu Đà là "bậc tiền bối" của dân tộc. Chỉ  có ý kiến của nhà sử học Ngô Thì Nhậm bác bỏ, và sang thời sau CM tháng 8/1945 cũng không coi Triệu Đà là vua VN . Hiện tại đây là chủ đề đang tranh cãi.  Nhân đây xin đề nghị  giới sử học VN cần xem xét đánh giá lại và kết luận dứt khoát về chủ đề này.  

Thứ Sáu, ngày 30 tháng 5 năm 2014

Thất bại trong quá khứ và bài học cho hôm nay(*)

(*)Phát lại bài viết của tác giả Bách Việt do người Việt ở Philippines sưu tầm, với hy vọng có tác dụng tham tham khảo thiết thực trong bối cảnh tình hình Việt Nam hiện nay. 

Tầu Trung Quốc tấn công tầu VN. Ảnh: CS Biển VN
Tầu Trung Quốc tấn công tầu VN. Ảnh: CS Biển VN
Việc đưa dàn khoan vào khu vực biển của Việt Nam, Trung Quốc đã gần như lật ngửa ván bài của một chính sách đối ngoại dựa trên bạo lực hơn là đàm phán hòa bình.  Trong khi đó, Việt Nam còn quá yếu về mọi mặt để có thể tạo thế đối đầu có trọng lượng với Trung Quốc.  Việt Nam ở thế tiến thoái lưỡng nan vì không thể leo thang và chạy đua trong chính sách ngoại giao bạo lực với Trung Quốc, nhưng cũng không có đường lùi và không thể nhượng bộ.


Tóm lại, mọi động thái ứng xử của Việt Nam hiện nay vẫn rất lúng túng, và mục đích chính vẫn chỉ để trì hoãn, hơn là thực sự giải quyết vấn đề về lâu dài trên cơ sở hòa bình.  Vận mệnh của Việt Nam do vậy đang là “ngàn cân treo trên sợi tóc”.  Câu trả lời hoàn toàn phụ thuộc vào sự tỉnh táo của Việt Nam vào lúc này.

Thứ Tư, ngày 09 tháng 4 năm 2014

Nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương tìm hiểu về nguồn cội

Những ngày này hàng vạn người người từ các vùng miền trong nước kéo nhau lên Đền Hùng (Phú Thọ) nơi được coi là "đất tổ" của Việt Nam. Đó là điều bình thường nếu cho rằng dân tộc nào cũng có đất tổ để mà thờ cúng. Nhưng sẽ là điều không bình thường khi người dân không thực sự hiểu biết và không tin vào ông tổ của mình. Vẫn biết đây  là một chủ đề vô cùng khó và phức tạp, thậm chí là "nhậy cảm" để bàn luận. Tuy nhiên, không thể làm ngơ trước sự thật là trong khi đại đa số người dân mặc nhiên rằng Đền Hùng là đất tổ thì ngày càng có nhiều người, nhất là giới trẻ, hoài nghi về lịch sử nguồn cội, thậm chí không ngần ngại đem ra đùa tếu về truyền thuyết các vua Hùng sao có 18 đời mà sống đến gần 5000 năm(?). Lại có người cho rằng "người Việt đẻ ra người Trung Quốc" trong khi người khác cho rằng "người Việt là từ Trung Quốc mà ra", v.v... Rõ ràng còn quá nhiều "góc khuất" trong lịch sử dân tộc chưa được làm sáng tỏ? 

 Để góp phần lý giải những khúc mắc nêu trên, Bách Việt xin mạn phép đăng lại một bài viết của GS.TSKH Hoàng Tuấn, Giám đốc Trung tâm Unesco, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa phương Đông dưới đây.    

                                       Văn minh Việt cổ “bị đánh cắp” như thế nào?

Kienthuc.net.vn:  GS.TSKH Hoàng Tuấn, Giám đốc Trung tâm Unesco, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa phương Đông đã tìm ra những chứng cứ chứng minh về những phát minh lý thú của người Việt trong thời kỳ dựng nước bị kẻ xâm lược cố tình xóa bỏ và đánh tráo. Đó là nền văn hóa nhân bản - là nền văn minh "Lịch toán - Nông nghiệp"...

Bài ngẫu nhiên

Tìm blog này